Từ kết nối dữ liệu đến làm chủ công nghệ chuyển đổi số hạ tầng

Chuyển đổi số trong hạ tầng giao thông đang được đặt trong yêu cầu tổng thể phải xây dựng năng lực kết nối hệ thống, quản trị dữ liệu, bảo đảm an toàn thông tin và duy trì hoạt động liên tục.

Ông Hà Mạnh Hùng – Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Hệ thống công nghệ ETC (ETC). Ảnh: Bnews/vnanet.vn phát
Ông Hà Mạnh Hùng – Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Hệ thống công nghệ ETC (ETC). Ảnh: Bnews/vnanet.vn phát

Với thực tiễn triển khai hệ thống thu phí điện tử không dừng và nền tảng xử lý dữ liệu tập trung cho các dự án thành phần cao tốc Bắc - Nam, phóng viên TTXVN đã có cuộc trao đổi với ông Hà Mạnh Hùng, Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Hệ thống công nghệ ETC (ETC) về vai trò của doanh nghiệp công nghệ Việt Nam trong việc từng bước chuyển hóa kinh nghiệm dự án thành năng lực nghiên cứu, phát triển và tích hợp các sản phẩm công nghệ phục vụ nhu cầu trong nước.

Thưa ông, Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là một đột phá quan trọng hàng đầu. Định hướng này đặt ra yêu cầu gì đối với các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam, đặc biệt trong quá trình hiện đại hóa hạ tầng giao thông?

Chuyển đổi số không đơn thuần là đưa thêm thiết bị hoặc phần mềm vào một quy trình đang có. Giá trị cốt lõi nằm ở việc tổ chức lại hoạt động dựa trên công nghệ và dữ liệu, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý, chất lượng vận hành và khả năng phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Đối với giao thông – một lĩnh vực hạ tầng thiết yếu thì yêu cầu này càng rõ nét. Các hệ thống phải vận hành liên tục, kết nối nhiều thành phần, xử lý khối lượng dữ liệu lớn và đáp ứng nghiêm ngặt các yêu cầu về độ chính xác, an toàn và bảo mật. Vì vậy, chuyển đổi số trong giao thông cần được triển khai trên một kiến trúc tổng thể, có khả năng kết nối, mở rộng và thích ứng với nhu cầu phát triển dài hạn.

Nghị quyết số 57-NQ/TW cũng đặt ra yêu cầu từng bước tự chủ về công nghệ, nhất là công nghệ chiến lược và công nghệ cốt lõi. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải đi xa hơn vai trò tiếp nhận và triển khai các công nghệ có sẵn; từng bước hình thành năng lực nghiên cứu, phát triển, tích hợp và duy trì hệ thống bằng nguồn lực trong nước.

Đó không phải là quá trình có thể hoàn thành trong thời gian ngắn. Doanh nghiệp cần đầu tư bền bỉ cho nghiên cứu và phát triển, nguồn nhân lực chất lượng cao, năng lực quản trị dự án và chất lượng sản phẩm. Quan trọng hơn, công nghệ phải xuất phát từ những bài toán thực tế. Khi hiểu đủ sâu về nghiệp vụ và môi trường vận hành, doanh nghiệp mới có thể chuyển hóa công nghệ thành những giải pháp tạo ra giá trị lâu dài.

ETC đang tham gia triển khai hệ thống thu phí điện tử không dừng và nền tảng xử lý dữ liệu tập trung cho các dự án thành phần cao tốc Bắc – Nam. Từ thực tiễn này, ông đánh giá như thế nào về vai trò của các hệ thống công nghệ phía sau đối với vận hành hạ tầng giao thông?

Khi nhắc đến một hệ thống giao thông thông minh, người dùng thường nhìn thấy các thiết bị tại điểm vận hành như camera, đầu đọc, cảm biến hoặc thiết bị kiểm soát. Tuy nhiên, hiệu quả của toàn hệ thống còn phụ thuộc rất lớn vào nền tảng xử lý dữ liệu phía sau.

Nền tảng này thực hiện việc tiếp nhận, xử lý, lưu trữ và quản lý dữ liệu từ nhiều điểm kết nối; đồng thời hỗ trợ giám sát, đối soát và quản lý hoạt động vận hành. Nếu dữ liệu không được xử lý chính xác, nhất quán và kịp thời, hiệu quả của các thiết bị phía trước cũng sẽ bị hạn chế.

Trong các dự án thu phí điện tử không dừng và hệ thống xử lý dữ liệu tập trung cho các dự án thành phần cao tốc Bắc – Nam, ETC tham gia những hạng mục công nghệ gắn trực tiếp với yêu cầu vận hành. Thực tiễn triển khai cho thấy chuyển đổi số hạ tầng giao thông cần được tiếp cận ở cấp độ toàn hệ thống, thay vì đầu tư riêng lẻ cho từng thiết bị hoặc ứng dụng.

Một nền tảng công nghệ phục vụ giao thông phải được thiết kế để bảo đảm khả năng kết nối giữa nhiều thành phần, duy trì tính chính xác và sẵn sàng của dữ liệu, đồng thời hỗ trợ giám sát và xử lý các tình huống phát sinh trong quá trình vận hành.

Ở góc độ rộng hơn, dữ liệu đang trở thành nguồn lực quan trọng trong quản lý hạ tầng. Khi được tổ chức và khai thác hiệu quả, dữ liệu không chỉ phục vụ hoạt động giám sát, đối soát mà còn có thể tạo nền tảng cho phân tích, dự báo, tự động hóa và hỗ trợ ra quyết định.

Một đoạn cao tốc Quảng Ngãi - Hoài Nhơn. Ảnh: TTXVN phát
Một đoạn cao tốc Quảng Ngãi - Hoài Nhơn. Ảnh: TTXVN phát

Vậy đối với ETC, doanh nghiệp đã chuyển hóa kinh nghiệm triển khai những hệ thống công nghệ quy mô lớn thành năng lực phát triển sản phẩm, nền tảng phần mềm như thế nào? Đâu là lợi thế của doanh nghiệp Việt khi tham gia các dự án có yêu cầu đặc thù như giao thông?

Kinh nghiệm triển khai chỉ tạo ra lợi thế dài hạn khi được hệ thống hóa và chuyển thành năng lực của tổ chức. Qua mỗi dự án, doanh nghiệp có điều kiện hiểu sâu hơn về nghiệp vụ, kiến trúc hệ thống, yêu cầu dữ liệu và những vấn đề phát sinh trong vận hành thực tế.

Những kiến thức đó cần được chuẩn hóa thành phương pháp triển khai, mô hình kiến trúc, thành phần phần mềm và quy trình kiểm soát chất lượng có khả năng kế thừa. Khi làm được điều này, doanh nghiệp không chỉ hoàn thành một dự án riêng lẻ mà còn tạo ra nền tảng để phát triển sản phẩm và giải pháp cho những bài toán tiếp theo.

Doanh nghiệp công nghệ Việt có lợi thế về sự am hiểu thị trường, môi trường pháp lý, điều kiện vận hành và đặc thù nghiệp vụ trong nước. Đối với giao thông, sự am hiểu này đặc biệt quan trọng bởi công nghệ phải được tích hợp vào những quy trình có nhiều chủ thể tham gia và tác động trực tiếp đến hoạt động đi lại, lưu thông hàng hóa.

Tuy nhiên, hiểu thị trường mới chỉ là điều kiện ban đầu. Để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, doanh nghiệp phải chứng minh được năng lực nghiên cứu và phát triển, chất lượng đội ngũ kỹ sư, khả năng bảo đảm an toàn thông tin, năng lực tích hợp hệ thống và khả năng duy trì sản phẩm trong suốt vòng đời vận hành.

Tại ETC, kinh nghiệm từ các dự án được chuyển hóa thành năng lực phát triển những nền tảng phần mềm có khả năng giải quyết các bài toán về xác thực, xử lý giao dịch, quản trị và khai thác dữ liệu. Mục tiêu không chỉ là đáp ứng yêu cầu của từng dự án, mà còn từng bước hình thành những sản phẩm công nghệ có giá trị sử dụng lâu dài và mang dấu ấn trí tuệ Việt.

Để tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW được cụ thể hóa trong chuyển đổi số hạ tầng giao thông, theo ông, cần những điều kiện nào để doanh nghiệp Việt có thể tham gia sâu hơn vào quá trình nghiên cứu và phát triển công nghệ?

Trước hết cần có những tiêu chuẩn và kiến trúc chung về dữ liệu, kết nối và khả năng tương tác giữa các hệ thống. Khi yêu cầu kỹ thuật được xác lập rõ ràng, các giải pháp của nhiều doanh nghiệp có thể kết nối trên cùng một hạ tầng, hạn chế tình trạng đầu tư phân tán hoặc phụ thuộc vào những hệ thống khép kín.

Bên cạnh đó, cơ chế lựa chọn giải pháp công nghệ nên đánh giá đầy đủ hiệu quả vận hành, khả năng mở rộng, mức độ an toàn và tổng chi phí trong suốt vòng đời sản phẩm, thay vì chỉ tập trung vào chi phí đầu tư ban đầu.

Các doanh nghiệp công nghệ trong nước cũng cần thêm cơ hội tham gia các chương trình thử nghiệm, dự án thí điểm và bài toán đặt hàng xuất phát từ nhu cầu thực tế. Công nghệ chỉ có thể hoàn thiện khi được triển khai, kiểm chứng và liên tục điều chỉnh trong môi trường vận hành thật.

Về phía doanh nghiệp, cơ hội phải đi cùng trách nhiệm. Doanh nghiệp Việt cần đầu tư nghiêm túc cho nghiên cứu và phát triển, tuân thủ tiêu chuẩn kỹ thuật, bảo vệ dữ liệu, bảo đảm an toàn hệ thống và cam kết đồng hành lâu dài với sản phẩm. Chỉ khi đáp ứng được những yêu cầu đó, công nghệ Việt mới có thể từng bước tham gia sâu hơn vào các hệ thống hạ tầng quan trọng.

Vừa qua, Phần mềm máy tính ETC được công nhận đạt Thương hiệu Quốc gia Việt Nam năm 2026. Dấu mốc này tạo thêm động lực để ETC tiếp tục đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, an toàn thông tin và nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là những nền tảng cần thiết để doanh nghiệp phát triển các sản phẩm, giải pháp có khả năng đáp ứng những bài toán ngày càng phức tạp của hạ tầng giao thông và các lĩnh vực trọng yếu khác.

Tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW mở ra một định hướng phát triển rõ ràng, nhưng để định hướng ấy đi vào thực tiễn cần sự đồng hành giữa Nhà nước, cơ quan quản lý, đơn vị vận hành, viện nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp. Trong quá trình đó, mỗi sản phẩm được phát triển, triển khai và hoàn thiện bằng năng lực trong nước sẽ góp thêm một bước vào hành trình nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia.

Xin trân trọng cảm ơn ông!.

Diệp Anh/TTXVN (Thực hiện)

Dành cho bạn

Kết nối 3 nhà bằng bài toán công nghệ

Kết nối 3 nhà bằng bài toán công nghệ

Chia sẻ tại Hội nghị toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp ngày 23/10, tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ nghiên cứu theo ý tưởng sang nghiên cứu theo đơn đặt hàng.