Tiêu điểm trong ngày: Nuôi dưỡng tương lai

Đổi mới trong nông nghiệp không chỉ nằm ở công nghệ hiện đại mà còn bắt đầu từ những thay đổi thiết thực trong phương thức sản xuất, sử dụng tài nguyên và tổ chức hệ thống lương thực, thực phẩm.

Từ những cánh đồng ở châu Phi đến mô hình lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Việt Nam, các sáng kiến phù hợp đang góp phần nâng cao năng suất, cải thiện sinh kế và hướng tới an ninh lương thực bền vững.

Đổi mới từ những cánh đồng

Nông dân thu hoạch lúa tại tỉnh Gaza, Mozambique. Ảnh: THX/TTXVN phát
Nông dân thu hoạch lúa tại tỉnh Gaza, Mozambique. Ảnh: THX/TTXVN phát

Đổi mới có thể bắt đầu từ những thay đổi nhỏ nhưng mang lại hiệu quả thiết thực cho người sản xuất. Khi tri thức, kỹ thuật phù hợp được kết hợp với kinh nghiệm thực tiễn, nông dân có thêm cơ hội cải thiện năng suất, giảm tổn thất và chủ động ứng phó với những biến động ngày càng khó lường.

Giữa những ngọn đồi trập trùng ở tỉnh Gitega của Burundi, những nương ngô, luống đậu xanh tốt hôm nay từng là vùng đất cằn cỗi, nơi bà Jacqueline Hakizimana vất vả gieo trồng nhưng vẫn không đủ lương thực nuôi gia đình. Có vụ, bà gieo 100 kg hạt giống đậu trên diện tích 2 ha nhưng chỉ thu hoạch được 90 kg, chưa đủ bù lượng giống đã bỏ ra. Cuộc sống bắt đầu đổi thay khi bà tham gia Chương trình Trường học Thực địa dành cho nông dân của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), học kỹ thuật canh tác mới và cách tổ chức sản xuất hiệu quả hơn. Từ 70 kg hạt giống ngô, bà thu hoạch được 1,6 tấn. Không chỉ cải thiện sinh kế, bà còn trở thành người hướng dẫn những nông dân khác. Câu chuyện cho thấy đổi mới có thể bắt đầu từ những giải pháp thiết thực, đưa tri thức và kỹ thuật phù hợp đến với người sản xuất.

Đó cũng là tinh thần của Ngày Lương thực thế giới 16/10 năm nay với chủ đề “Đổi mới hôm nay, nuôi dưỡng ngày mai” (Innovate today. Nourish tomorrow). Theo FAO, đổi mới không chỉ là ứng dụng công nghệ hiện đại mà còn là kết hợp tiến bộ khoa học với kinh nghiệm sản xuất, tri thức bản địa và những phương thức canh tác hiệu quả hơn. Những giải pháp phù hợp có thể giúp tăng năng suất, giảm tổn thất, sử dụng tài nguyên hiệu quả và xây dựng hệ thống lương thực, thực phẩm bền vững, có khả năng ứng phó tốt hơn với biến động.

Thông điệp này càng có ý nghĩa khi nạn đói vẫn ảnh hưởng đến hàng trăm triệu người. Theo báo cáo “Tình trạng An ninh lương thực và Dinh dưỡng trên thế giới năm 2026” (SOFI 2026) của Liên hợp quốc (LHQ), năm ngoái, vẫn có khoảng 645 triệu người bị đói; 2,1 tỷ người rơi vào tình trạng mất an ninh lương thực ở mức độ vừa hoặc nghiêm trọng. Khoảng 2,69 tỷ người không đủ khả năng chi trả cho một chế độ ăn uống lành mạnh. Dù tình trạng đói đã có dấu hiệu cải thiện, tiến triển vẫn chậm và không đồng đều giữa các khu vực, khiến mục tiêu xóa đói vào năm 2030 gặp nhiều trở ngại.

Thực tế cho thấy nạn đói không chỉ bắt nguồn từ thiếu lương thực. Xung đột, bất ổn kinh tế và biến đổi khí hậu có thể làm gián đoạn sản xuất, đẩy giá thực phẩm lên cao và cản trở hoạt động cung ứng. Trong khi đó, hạn chế về bảo quản, vận chuyển và chế biến khiến một phần đáng kể nông sản bị thất thoát. Theo FAO, khoảng 13,3% lượng thực phẩm toàn cầu bị thất thoát trong các khâu từ sau thu hoạch đến vận chuyển, bảo quản, bán buôn và chế biến năm 2023. Vì vậy, tăng sản lượng chưa đủ; giảm thất thoát và nâng cao hiệu quả phân phối cũng là những giải pháp quan trọng để bảo đảm an ninh lương thực.

Đổi mới phương thức canh tác và tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu cũng giữ vai trò thiết yếu. Tại Zimbabwe, hệ thống tưới sử dụng năng lượng Mặt Trời, công cụ tư vấn khí hậu trên nền tảng số và hệ thống cảnh báo sớm giúp nông dân chủ động hơn trước hạn hán, thời tiết thất thường và sâu bệnh. Nhờ tiếp cận thông tin về thời tiết và kỹ thuật canh tác, người sản xuất có thể lựa chọn thời điểm gieo trồng phù hợp, tiết kiệm nguồn lực và hạn chế thiệt hại.

Tuy nhiên, công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi người sản xuất có điều kiện tiếp cận. Với nhiều hộ nông dân quy mô nhỏ, thiếu vốn, hạ tầng và kiến thức kỹ thuật vẫn là những rào cản lớn. Bởi vậy, đổi mới cần đi cùng đào tạo, tín dụng phù hợp, dịch vụ khuyến nông và kết nối thị trường, giúp nông dân không chỉ tiếp nhận công nghệ mà còn có khả năng áp dụng và hưởng lợi từ những tiến bộ mới.

Hệ thống lương thực bền vững

Để những sáng kiến riêng lẻ tạo ra tác động lâu dài, cần có sự phối hợp giữa chính sách, đầu tư, khoa học và hợp tác quốc tế. Việc nhân rộng các mô hình hiệu quả, hỗ trợ người sản xuất tiếp cận tri thức và thúc đẩy chuyển đổi toàn bộ hệ thống lương thực, thực phẩm sẽ quyết định mức độ lan tỏa của đổi mới. Hợp tác quốc tế đang góp phần thúc đẩy quá trình này.

Ngày 26/3, Ngân hàng Thế giới phê duyệt giai đoạn IV của Chương trình Tăng cường khả năng chống chịu của hệ thống lương thực Tây Phi, với khoản tài trợ 46 triệu USD. Chương trình hỗ trợ mở rộng các giải pháp nông nghiệp thích ứng khí hậu tại Ethiopia, Ghana, Kenya, Mali, Senegal và Zambia, dự kiến mang lại lợi ích cho hơn 1,5 triệu nông dân cùng các tác nhân trong hệ thống lương thực, thực phẩm. Những sáng kiến như vậy cho thấy chuyển giao tri thức, đào tạo và nhân rộng các mô hình hiệu quả cũng quan trọng không kém việc phát triển công nghệ mới.

Tại Việt Nam, đổi mới hệ thống lương thực, thực phẩm vừa góp phần bảo đảm an ninh lương thực, vừa mở ra cơ hội nâng cao giá trị nông sản, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu. Ảnh: Tuấn Kiệt/TTXVN
Tại Việt Nam, đổi mới hệ thống lương thực, thực phẩm vừa góp phần bảo đảm an ninh lương thực, vừa mở ra cơ hội nâng cao giá trị nông sản, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu. Ảnh: Tuấn Kiệt/TTXVN

Tại Việt Nam, đổi mới hệ thống lương thực, thực phẩm vừa góp phần bảo đảm an ninh lương thực, vừa mở ra cơ hội nâng cao giá trị nông sản, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Quyết định số 300/QĐ-TTg ngày 28/3/2023 của Thủ tướng Chính phủ về Kế hoạch Hành động quốc gia chuyển đổi hệ thống lương thực, thực phẩm minh bạch, trách nhiệm và bền vững đến năm 2030 đặt định hướng chuyển đổi xuyên suốt từ sản xuất, chế biến, phân phối đến tiêu dùng, gắn phát triển nông nghiệp với cải thiện dinh dưỡng, bảo vệ môi trường và nâng cao đời sống người dân.

Một ví dụ tiêu biểu là Đề án phát triển bền vững một triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh tại Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030. Đến cuối năm 2025, diện tích tham gia đạt 354.839 ha, tương đương 197% mục tiêu 180.000 ha của giai đoạn 2024–2025. Tại các mô hình thí điểm, lượng giống gieo sạ giảm khoảng 45%, lượng phân bón giảm khoảng 30% và lượng nước tưới giảm khoảng 20%. Riêng trong vụ Đông – Xuân, một số mô hình ghi nhận mức giảm phát thải khoảng 3,7 tấn CO₂ tương đương/ha/vụ. Thu nhập của người trồng lúa trong các mô hình năm 2024 tăng trung bình từ 13,4% trở lên so với phương thức canh tác truyền thống. Những kết quả bước đầu cho thấy đổi mới kỹ thuật có thể đồng thời nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm tác động môi trường và cải thiện sinh kế

Từ những cánh đồng ở Burundi đến các mô hình thích ứng khí hậu tại châu Phi và vùng lúa Đồng bằng sông Cửu Long, điểm chung là đổi mới chỉ thực sự mang lại giá trị lâu dài khi đáp ứng nhu cầu thiết thực của người dân. Để đạt được mục tiêu đó, cần sự chung tay của chính phủ, giới khoa học, doanh nghiệp và nông dân, đồng thời tạo điều kiện để những tiến bộ mới đến được với nhiều người hơn, nhất là các cộng đồng dễ bị tổn thương.

Lợi Nguyễn/TTXVN

Dành cho bạn