Chăm sóc trẻ sinh thiếu tháng, nhẹ cân tại Quảng Trị. Ảnh: TTXVN |
* Trẻ em vùng khó cần được tiếp tục ưu tiên
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác chăm sóc trẻ em còn gặp nhiều khó khăn, nhất là với trẻ em vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trẻ em vùng khó khăn cần tiếp tục được ưu tiên nhiều hơn nữa trong chăm sóc y tế, có như thế mới rút ngắn được khoảng cách với miền xuôi. Thông tin từ các nghiên cứu y tế cho thấy: Sau một thời gian giảm mạnh, tỷ suất tử vong trẻ em ở nước ta đang giảm chậm trong những năm gần đây. Đáng lo ngại hơn, tỷ suất tử vong ở trẻ sơ sinh hầu như không thay đổi từ năm 2000. Tử vong trẻ em chủ yếu xảy ra ở địa bàn khó khăn như miền núi, vùng sâu vùng xa. Đây là những nơi cần nhiều hơn nữa thời gian, điều kiện để nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế. Đại diện Vụ Sức khỏe Bà mẹ - trẻ em (Bộ Y tế) cũng cho biết: Trẻ em miền núi có tỷ lệ tử vong cao hơn những vùng khác là do đầu tư ngân sách chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe sinh sản ngày càng cao của nhân dân. Đặc biệt, việc tiếp cận và chất lượng chăm sóc sức khỏe bà mẹ trước, trong và sau sinh, chăm sóc trẻ sơ sinh còn nhiều hạn chế, tình trạng sinh con không có cán bộ y tế đỡ còn khá phổ biến ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất, trang thiết bị cho khoa sản, khoa nhi ở nhiều bệnh viện tuyến huyện còn thiếu thốn, chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc, điều trị cấp cứu sản phụ và trẻ em, trẻ sơ sinh. Do hạn chế kinh phí, cán bộ làm công tác sản khoa, sơ sinh và nhi khoa không được đào tạo, cập nhật kiến thức thường xuyên, dẫn đến có những hạn chế về kỹ năng, đặc biệt là những kỹ năng cứu sống bà mẹ và trẻ sơ sinh. Đồng thời, hệ thống thông tin báo cáo còn nhiều hạn chế và yếu kém, số liệu thu thập còn thiếu chính xác, chưa phản ánh đúng thực tế về tình hình tử vong mẹ, tử vong trẻ em, đặc biệt không có số liệu về tử vong trẻ sơ sinh, chưa bảo đảm tính kịp thời, chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác hoạch định chính sách cũng như xây dựng kế hoạch can thiệp.
* Tiếp tục kiện toàn hệ thống chăm sóc sức khỏe cơ sở Đánh giá chung của Bộ Y tế cho thấy: Theo dõi tỷ suất tử vong ở trẻ em là việc làm quan trọng đặc biệt bởi chỉ số này phản ánh chất lượng dịch vụ y tế của một quốc gia trong chăm sóc trẻ em và phụ nữ mang thai. Thêm vào đó, tỷ suất tử vong ở trẻ sơ sinh cũng liên quan chặt chẽ đến sức khỏe bà mẹ. Việt Nam tiến rất gần Mục tiêu 4 với chỉ số tỷ suất tử vong ở trẻ dưới 1 tuổi. Tuy nhiên, việc giải quyết vấn đề tử vong trẻ em tại các khu vực vùng sâu vùng xa, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, đang là vấn đề khó khăn. Theo đó, Mục tiêu số 4 hướng tới giảm 2/3 số lượng trẻ tử vong trong vòng 24 năm (1990-2014). Như vậy, Việt Nam đã giảm đáng kể tỷ suất tử vong trẻ em, đặc biệt trong 15 năm đầu thực hiện. Có được thành công này là nhờ công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ - trẻ em được thực hiện thông qua mạng lưới cung cấp dịch vụ rộng khắp từ Trung ương đến địa phương. Tại tuyến xã, 99% số xã có trạm y tế, gần 94% số trạm y tế có hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi, 66% số trạm y tế có bác sĩ, 84% số thôn, bản có nhân viên y tế thôn bản. Tại những thôn, bản rất khó tiếp cận đến trạm y tế hoặc vùng đồng bào dân tộc còn tồn tại tập tục sinh con tại nhà, ngành y tế đã đào tạo các cô đỡ thôn bản chịu trách nhiệm chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ sơ sinh. Đồng thời, việc mở rộng tiếp cận; nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em đến tất cả các vùng, miền, các đối tượng, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và nhóm người yếu thế là yếu tố quan trọng dẫn đến thành công trong việc giảm tử vong trẻ dưới 5 tuổi và tử vong mẹ. Bên cạnh đó, chương trình quốc gia Tiêm chủng mở rộng đã giúp giảm đáng kể tử vong ở trẻ dưới 1 tuổi cùng nhiều chính sách hướng tới bảo vệ sức khỏe phụ nữ như: Chiến lược quốc gia về Chăm sóc Sức khỏe sinh sản 2001-2010, Chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và Chính sách kế hoạch hóa gia đình được thực hiện từ đầu những năm 1990. Thời gian tới, để đảm bảo tiến độ thực hiện mục tiêu phát triển thiên niên kỷ đồng đều giữa các vùng dân cư, đặc biệt là vùng khó khăn, ngành y tế tiếp tục củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức mạng lưới chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe bà mẹ và trẻ em từ tuyến trung ương đến cơ sở; thiết lập và vận hành các phòng chăm sóc trẻ sơ sinh riêng tại các bệnh viện huyện. Đồng thời, ngành y tế tăng cường đào tạo bác sĩ chuyên khoa phụ sản, chuyên khoa nhi, chú trọng hình thức đào tạo bác sĩ chuyên khoa sơ bộ để nhanh chóng bổ sung lực lượng cán bộ chuyên khoa thuộc hai chuyên ngành trên đang rất thiếu, kể cả ở các cơ sở y tế tuyến tỉnh. Bộ Y tế sẽ ban hành quy định về nghĩa vụ xã hội đối với bác sĩ về công tác ở vùng sâu, vùng xa, thực hiện chính sách hỗ trợ đặc thù đối với đội ngũ cô đỡ thôn bản người dân tộc thiểu số như nhân viên y tế thôn bản…