Thủy điện Trị An tiếp tục tăng lưu lượng xả lũ để điều tiết hồ chứa

Ngày 10/11, Công ty thủy điện Trị An tiếp tục điều chỉnh tăng lưu lượng xả lũ qua đập tràn để điều tiết hồ chứa, nâng tổng lượng nước xả xuống hạ du sông Đồng Nai khoảng 1.400 m3/s.
Chú thích ảnh
Nhà máy Thủy điện Trị An. Ảnh: Huy Hùng/TTXVN

Theo thông báo của Công ty thủy điện Trị An, lúc 18 giờ ngày 9/11, lưu lượng nước từ thượng nguồn về hồ đạt 1.510 m3/s, mực nước thượng lưu hồ đạt 61,84 m (cao trình thiết kế 62 m).

Căn cứ mực nước hạ du sông đo tại trạm thủy văn Biên Hòa đã qua đỉnh triều cường và hạ thấp dần trong những ngày tiếp theo; căn cứ mực nước thượng lưu và lưu lượng nước về hồ, để đảm bảo an toàn công trình và không gây đột biến dòng chảy cho hạ du, Công ty thủy điện Trị An tiến hành tăng dần lượng nước xả qua đập tràn để điều tiết hồ chứa.

Cụ thể, lúc 8 giờ ngày 10/11, lưu lượng nước xả qua đập tràn hồ chứa thủy điện Trị An tăng từ 480 m3/s lên 640 m3/s; lưu lượng nước qua tua-bin phát điện 750 - 800 m3/s; tổng lưu lượng nước xả xuống hạ du 1.390 - 1.440 m3/s.

Tùy theo diễn biến của thời tiết, lưu lượng nước về hồ, mực nước hồ thủy điện Trị An, mực nước hạ du sông tại trạm thủy văn Biên Hòa, Công ty thủy điện Trị An có thể thay đổi lưu lượng nước điều tiết qua đập tràn.

Công ty thủy điện Trị An thông báo đến các cơ quan chính quyền địa phương liên quan biết để chỉ đạo, phối hợp và thông báo cho nhân dân vùng hạ du hồ chứa chủ động có biện pháp phòng ngừa, nhằm tránh những thiệt hại có thể xảy ra.

Đây là lần tăng lưu lượng xả lũ liên tiếp của Công ty thủy điện Trị An trong hai ngày. Trước đó, ngày 9/11, đơn vị này tăng lưu lượng từ 160 m3/s gấp 3 lần, lên 480 m3/s và đến 8 giờ ngày 10/11 tăng lên 640 m3/s.

Hồ thủy điện Trị An có dung tích hơn 2,7 tỷ m3 nước, là hồ chứa lớn nhất các tỉnh phía Nam.

Hồ Trị An ngoài chức năng chính phát điện với công suất 400 MW, cung cấp điện cho lưới quốc gia, còn có chức năng đảm bảo nước cho sinh hoạt, nông nghiệp, đẩy mặn và điều tiết lũ cho vùng hạ lưu sông Đồng Nai.

Sỹ Tuyên (TTXVN)

Dành cho bạn

Cơ hội hợp tác Việt Nam- Na Uy về điện gió ngoài khơi

Cơ hội hợp tác Việt Nam- Na Uy về điện gió ngoài khơi

Với lợi thế tài nguyên gió và nền tảng công nghiệp dầu khí biển, Việt Nam đang thúc đẩy hợp tác với Na Uy về công nghệ, đầu tư và chuỗi cung ứng, mở rộng cơ hội phát triển điện gió ngoài khơi, hướng tới mục tiêu Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đề ra là tổng công suất 6.000 MW vào năm 2030 và 17.000 MW vào năm 2035.

Cao tốc Bến Lức - Long Thành đánh thức tiềm năng vùng- Bài 2: Để lợi thế hạ tầng thành động lực tăng trưởng

Cao tốc Bến Lức - Long Thành đánh thức tiềm năng vùng- Bài 2: Để lợi thế hạ tầng thành động lực tăng trưởng

Cao tốc Bến Lức - Long Thành mở thêm hành lang giao thông kết nối Đồng bằng sông Cửu Long với Thành phố Hồ Chí Minh và Đông Nam Bộ, tạo cơ hội mở rộng không gian phát triển cho các địa phương. Để biến lợi thế hạ tầng thành động lực tăng trưởng, Tây Ninh và Đồng Tháp hướng đến gắn quy hoạch giao thông với phát triển công nghiệp, logistics, kinh tế biển, nông nghiệp chế biến và cải thiện môi trường đầu tư thu hút dòng vốn đầu tư.

Chứng khoán hồi phục mạnh, xu hướng tăng cần thêm xác nhận

Chứng khoán hồi phục mạnh, xu hướng tăng cần thêm xác nhận

Sau bốn tuần giảm liên tiếp, VN-Index tăng 4% trong tuần 19 - 23/10, lên 1.774,15 điểm. Thanh khoản cải thiện, nhiều nhóm ngành phục hồi, nhưng khối ngoại vẫn bán ròng và dòng tiền vẫn tập trung ở một số cổ phiếu vốn hóa lớn. Vùng 1.780–1.800 điểm sẽ là phép thử đối với sức bền của nhịp tăng.

Cao tốc Bến Lức - Long Thành đánh thức tiềm năng vùng​ - Bài 1: Khơi thông dòng chảy hàng hóa

Cao tốc Bến Lức - Long Thành đánh thức tiềm năng vùng​ - Bài 1: Khơi thông dòng chảy hàng hóa

Gần một tháng đi vào hoạt động, tuyến cao tốc Bến Lức- Long Thành từng bước phát huy hiệu quả trong rút ngắn thời gian di chuyển, giảm chi phí logistics và tăng cường kết nối giao thông giữa Đông Nam Bộ với Đồng bằng sông Cửu Long. Sau 12 năm thi công, vượt sông rạch và rừng ngập mặn, tuyến cao tốc dài gần 58 km chính thức thông xe toàn tuyến vào tháng 10/2026, mở thêm hành lang giao thương, tạo điều kiện liên kết các khu công nghiệp, vùng sản xuất với hệ thống cảng biển, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế liên vùng.