Thúc đẩy công nghệ, mở rộng thị trường cho đặc sản vùng cao

Ngày 21/9 tại Hà Nội, Tạp chí Công Thương tổ chức Tọa đàm “Ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong sản xuất, phân phối và phát triển đặc sản, sản phẩm vùng cao” nhằm trao đổi các giải pháp thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học,

toa-dam.jpg
Quang cảnh toạ đàm. Ảnh: Bộ Công Thương

Ông Phạm Quyết Tiến, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Công nghệ hỗ trợ nông nghiệp cho biết, điểm nghẽn lớn nhất không chỉ là thiếu máy móc, mà là thiếu hệ thống công nghệ đồng bộ, phù hợp với quy mô và điều kiện từng vùng. Sản xuất còn phân tán, giống và quy trình canh tác chưa được chuẩn hóa; khâu kiểm soát chất lượng, sơ chế, bảo quản, chế biến và truy xuất nguồn gốc còn hạn chế, khiến nhiều sản phẩm mới dừng ở dạng nguyên liệu thô, khó nâng cao giá trị gia tăng.

Theo ông Phạm Quyết Tiến, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có thể tạo chuyển biến rõ nét ở bốn khâu gồm chuẩn hóa giống và quy trình sản xuất; cơ giới hóa, giám sát chất lượng; ứng dụng công nghệ sau thu hoạch, bảo quản và chế biến sâu; số hóa vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn hóa sản phẩm. Do đó, việc lựa chọn công nghệ không nên chạy theo công nghệ đắt tiền, mà cần phù hợp với điều kiện thực tế, chi phí hợp lý và giải quyết đúng nhu cầu của địa phương. Khi công nghệ gắn với tiêu chuẩn sản phẩm và đầu ra thị trường, người dân sẽ có động lực ứng dụng, doanh nghiệp yên tâm đầu tư, qua đó giúp đặc sản địa phương phát triển thành hàng hóa bền vững.

Chia sẻ tại toạ đàm, bà Trần Thị Thúy, Giám đốc Hợp tác xã Lộc Thúy Quỳnh Farm chỉ rõ, việc ứng dụng công nghệ giúp hợp tác xã chế biến sâu thanh long, kéo dài thời gian bảo quản, nâng cao giá trị sản phẩm và mở rộng cơ hội tham gia các chuỗi phân phối, hướng tới xuất khẩu. Tuy nhiên, quá trình này còn gặp nhiều khó khăn về vốn, nhân lực, kỹ năng số và khả năng vận hành công nghệ.

Một trong những trở ngại là việc ghi chép nhật ký sản xuất, truy xuất nguồn gốc còn khó đối với các hộ nông dân lớn tuổi; trong khi vận hành dây chuyền công nghiệp đòi hỏi nhân lực có chuyên môn. Hợp tác xã cũng gặp khó trong việc cân đối sản lượng với nhu cầu thị trường, bán hàng trên các nền tảng thương mại điện tử và đáp ứng yêu cầu của khách hàng quốc tế.

Thời gian tới, hợp tác xã định hướng tiếp tục đầu tư công nghệ để phát triển các sản phẩm chế biến sâu, trước mắt là mì thanh long thịt bò hầm ăn liền, hướng tới đầu tư dây chuyền sản xuất mì ăn liền và mở rộng xuất khẩu. Bà Thúy mong muốn nhận được sự hỗ trợ về tài chính, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và kết nối thị trường để nâng cao năng lực sản xuất, đáp ứng các thị trường có yêu cầu cao.

Ông Bùi Quang Cường, Trưởng Ban Phát triển nguồn nhân lực, Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam cho rằng, điểm nghẽn lớn của các sản phẩm vùng cao không hẳn nằm ở chất lượng sản phẩm, mà ở khả năng đưa sản phẩm lên thị trường số. Bên cạnh việc hoàn thiện bao bì, nhãn mác, câu chuyện thương hiệu, các chủ thể cần xác định đúng khách hàng mục tiêu và lựa chọn kênh tiếp cận phù hợp.

Thương mại điện tử giúp xóa nhòa khoảng cách địa lý, mở rộng thị trường từ trong nước đến quốc tế. Tuy nhiên, để tận dụng cơ hội này, người bán phải có kỹ năng số và hiểu cách vận hành từng nền tảng, đồng thời tổ chức đồng bộ các khâu từ định giá, nội dung, bán hàng, thanh toán, logistics đến chăm sóc khách hàng. Đặc biệt, khi thương mại điện tử ngày càng bước vào giai đoạn cạnh tranh và thanh lọc, kinh doanh trực tuyến không còn là hoạt động mang tính bổ trợ mà đòi hỏi sự chuyên nghiệp và năng lực vận hành bài bản. Vì vậy, thu hẹp khoảng cách về kỹ năng số là điều kiện quan trọng để các sản phẩm vùng cao tiếp cận rộng hơn với thị trường.

Ông Phạm Quyết Tiến nhấn mạnh: Lựa chọn và chuyển giao công nghệ phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của người sản xuất và thị trường, phù hợp với điều kiện tự nhiên, quy mô vùng nguyên liệu, tập quán canh tác, khả năng đầu tư và trình độ vận hành của địa phương. Các giải pháp cần vừa sức, dễ sử dụng, bảo dưỡng và có khả năng mở rộng.

Hơn nữa, chuyển giao công nghệ không chỉ là bàn giao máy móc mà phải là quá trình đồng hành, từ thiết kế, thử nghiệm, đo lường hiệu quả, điều chỉnh quy trình đến đào tạo thực hành và xây dựng đội ngũ kỹ thuật nòng cốt tại hợp tác xã, địa phương. Đồng thời, cần tính đến khả năng vận hành sau chuyển giao, từ bảo trì, vật tư thay thế đến sản lượng hòa vốn và đầu ra sản phẩm, với sự phân công rõ trách nhiệm giữa các bên.

Thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Viện định hướng ưu tiên các gói giải pháp công nghệ theo chuỗi giá trị, gắn vùng nguyên liệu với sản xuất, sơ chế, bảo quản, chế biến, tiêu chuẩn chất lượng và thị trường. Các mô hình sẽ được triển khai ngay tại vùng sản xuất, lấy hợp tác xã hoặc doanh nghiệp làm hạt nhân và đánh giá bằng những chỉ số cụ thể về năng suất, chất lượng, chi phí, hao hụt, giá bán và thu nhập. Dođó, nhân rộng không phải là sao chép nguyên trạng mà cần chuẩn hóa yếu tố cốt lõi, đồng thời điều chỉnh phù hợp từng địa phương. Mô hình chỉ thực sự thành công khi chứng minh được hiệu quả kinh tế, khả năng tự vận hành và đầu ra ổn định.

Ông Bùi Quang Cường khẳng định: Truy xuất nguồn gốc và thông tin minh bạch là nền tảng để tạo niềm tin với người tiêu dùng. Trên thương mại điện tử, khách hàng không chỉ mua sản phẩm mà còn quan tâm đến chất lượng, quy trình sản xuất và câu chuyện, giá trị phía sau sản phẩm. Bởi vậy, các hợp tác xã, doanh nghiệp cần xác định rõ nhóm khách hàng mục tiêu để điều chỉnh sản phẩm, bao bì, thông điệp và cách tiếp cận. Bên cạnh nhóm khách hàng mua để sử dụng, phân khúc quà tặng có thể mở ra dư địa gia tăng giá trị, khi người mua không chỉ quan tâm đến chất lượng mà còn chú trọng hình thức, thông điệp và ý nghĩa của sản phẩm.

Về định hướng thời gian tới, Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam tập trung phát triển hệ sinh thái thương mại điện tử, kết nối nền tảng, logistics, thanh toán, đào tạo và các dịch vụ hỗ trợ, giúp doanh nghiệp, hợp tác xã không phải tự xoay xở từng khâu. Hiệp hội cũng đẩy mạnh đào tạo kỹ năng số, phối hợp với các cơ quan quản lý, địa phương và trường đại học để phát triển nguồn nhân lực thương mại điện tử.

Theo ông Bùi Quang Cường, bán hàng xuyên biên giới cũng là hướng cần được chuẩn bị khi doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh ngày càng trực tiếp với các nhà bán hàng nước ngoài ngay trên thị trường trong nước. Cùng với đó, thương mại điện tử cần phát triển theo hướng bền vững, chú trọng giảm tác động môi trường từ bao bì và hoạt động logistics. Mục tiêu là hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã nâng cao năng lực số, bán hàng hiệu quả và từng bước mở rộng thị trường.

Uyên Hương/TTXVN

Dành cho bạn

Tổng thống Mỹ Donald Trump (trái) và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong một cuộc gặp năm 2017. Ảnh tư liệu: AFP/TTXVN (Không sử dụng, chia sẻ bởi bên thứ ba)

Khi rủi ro từ AI được đặt lên bàn nghị sự Mỹ-Trung

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang chuyển từ một mặt trận cạnh tranh công nghệ thành vấn đề an ninh chiến lược trong quan hệ Mỹ-Trung. Diễn biến này cũng đặt ra yêu cầu đối với Việt Nam trong triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW: thúc đẩy làm chủ công nghệ phải đi cùng bảo đảm an toàn, an ninh mạng và an ninh dữ liệu.

Hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ TP Hồ Chí Minh tăng tốc chuyển đổi số

Hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ TP Hồ Chí Minh tăng tốc chuyển đổi số

Thực hiện Nghị quyết 57, chợ truyền thống, hộ kinh doanh tại Thành phố Hồ Chí Minh đang đưa thanh toán số, bán hàng trực tuyến, quản trị dữ liệu số vào hoạt động. Những mô hình triển khai tại chợ và doanh nghiệp nhỏ cho thấy chuyển đổi số chỉ hiệu quả khi công cụ đơn giản, chi phí phù hợp.

Công nghệ số mở thêm không gian phát triển kinh tế - xã hội

Công nghệ số mở thêm không gian phát triển kinh tế - xã hội

Ngày 20/9, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lai Châu phối hợp với Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức Hội thảo “Khoa học, công nghệ và Đổi mới sáng tạo - Động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội tỉnh Lai Châu”.