Quang cảnh phiên họp. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN
Đồng tình với chính sách ưu tiên đưa người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao ra nước ngoài làm việc, đại biểu Ngô Trung Thành (Đắk Lắk) cho rằng, đây là cơ hội để họ nâng cao kỹ năng, tiếp cận công nghệ, cách quản lý và môi trường làm việc tiên tiến. Tuy nhiên, quy định này cần bám sát thực tế vì hiện nay chúng ta cũng đang thiếu lao động chất lượng cao, nhất là trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, công nghệ số, công nghệ cao, năng lượng, y tế, công nghệ chế tạo. Đây cũng là những lĩnh vực mà chúng ta đang đặt nhiều kỳ vọng để tạo động lực tăng trưởng mới.
Theo đại biểu, nếu ưu tiên đưa nhóm lao động này ra nước ngoài một cách chung chung có thể dẫn đến thiếu hụt ở trong nước. Chỉ nên ưu tiên khi nguồn nhân lực trong nước đã đáp ứng hoặc vượt nhu cầu, hoặc khi Nhà nước đã xác định rõ việc đưa người đi là để đào tạo, tích lũy kinh nghiệm cho một lĩnh vực chiến lược mà đất nước đang cần.
Đại biểu Ngô Trung Thành nhìn nhận, việc có cơ chế đặc thù để đưa lao động đi đào tạo trong các lĩnh vực Nhà nước ưu tiên phát triển là hết sức cần thiết. Chúng ta đang thiếu nhân lực, trong khi yêu cầu phát triển những ngành mới, ngành mũi nhọn là rất cấp bách. Đất nước đang đứng trước yêu cầu phát triển nhanh, đột phá. Nếu không chủ động chuẩn bị nguồn nhân lực này thì rất khó thực hiện được các mục tiêu chiến lược đã đặt ra. Nội dung này đã có ở trong Luật hiện hành nhưng đến nay chưa có chính sách cụ thể để triển khai.
“Nếu sửa đổi lần này vẫn chỉ giao Chính phủ quy định thì chính sách có nguy cơ tiếp tục chờ, trong khi đó những ngành chiến lược thì chúng ta không có nhiều thời gian để chờ”, đại biểu Ngô Trung Thành nói.
Trên cơ sở phân tích này, đại biểu tỉnh Đắk Lắk cho rằng cần chuyển sang cách làm Nhà nước xác định cần lao động gì, bao nhiêu, đào tạo ở đâu, từ đó chủ động đưa ra nước ngoài. Luật sửa đổi lần này cần quy định rõ Chính phủ có trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện đề án phát triển nguồn nhân lực đối với từng ngành, lĩnh vực mũi nhọn trọng tâm, trong đó có việc đưa người lao động đi đào tạo, nghiên cứu, thực tập hoặc làm việc có thời hạn ở nước ngoài, sau đó trở về làm việc ở trong nước. Yêu cầu phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và mục tiêu tăng trưởng hai con số đòi hỏi Nhà nước phải chủ động chuẩn bị nguồn nhân lực cho các ngành chiến lược trong trung và dài hạn. Nếu làm được như vậy, việc đưa người Việt Nam ra nước ngoài không đơn thuần là đi làm việc mà sẽ trở thành cách thức học hỏi công nghệ, tích lũy tri thức, đào tạo đội ngũ chuyên gia và đưa nguồn nhân lực đó trở về phục vụ trực tiếp cho sự phát triển của đất nước.
Cũng như vậy, đại biểu Trần Văn Lâm (Bắc Ninh) cho rằng “chúng ta đưa người đi làm việc ở nước ngoài nhưng đồng thời phải đảm bảo lợi thế cạnh tranh về nguồn nhân lực cho khu vực kinh tế trong nước”.
Phân tích khoản 1 Điều 4 dự thảo luật về chính sách của nhà nước đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài với mục tiêu mở rộng cơ hội việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện kỹ năng nghề, ngoại ngữ và bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động là chủ trương đúng, phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế và đáp ứng nguyện vọng chính đáng của người lao động, song theo đại biểu, chính sách phải được nhìn nhận toàn diện và hài hòa hơn. Bên cạnh mục tiêu đưa người lao động tham gia thị trường lao động quốc tế, phải đặc biệt quan tâm tới bảo vệ nguồn cung lao động, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao cho thị trường lao động trong nước. Đây không chỉ là vấn đề lao động mà còn là vấn đề bảo vệ nguồn lực cho phát triển lâu dài đất nước.
Trong giai đoạn tới, mục tiêu tăng trưởng hai con số chỉ có thể thực hiện khi đồng thời có thể chế tốt, hạ tầng tốt và nguồn nhân lực chất lượng cao. Hiện nay doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và thị trường lao động quốc tế đang cùng cạnh tranh nguồn lực lao động có kỹ năng. Thực tế rất nhiều doanh nghiệp trong nước cũng đang khó khăn trong việc tuyển dụng lao động, kể cả những lao động tay nghề vừa phải và đặc biệt là lao động có tay nghề cao.
Trong bối cảnh đó, quy định ưu tiên đưa người lao động đã qua đào tạo và có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao đi làm việc ở nước ngoài có thể làm suy giảm tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, khó khăn cho các doanh nghiệp đang đầu tư ở trong nước.
“Mục tiêu của quy định này là nâng cao chất lượng lao động Việt Nam trên thị trường quốc tế, nhưng chiều ngược lại cũng cần đánh giá đầy đủ tác động đối với thị trường lao động trong nước”, đại biểu Lâm nói.
Theo ông, chúng ta đang tập trung thu hút đầu tư vào các ngành công nghệ cao, công nghiệp chế biến, chế tạo, bán dẫn, chuyển đổi số, đồng thời dành nhiều nguồn lực để đào tạo đội ngũ kỹ sư kỹ thuật cao và công nhân lành nghề phục vụ phát triển đất nước. Nếu pháp luật quy định theo hướng ưu tiên đưa chính lực lượng này ra thị trường lao động nước ngoài thì doanh nghiệp trong nước sẽ phải cạnh tranh gay gắt hơn về tuyển dụng và giữ chân lao động. Chi phí nhân công, chi phí đào tạo sẽ tăng, khả năng cung ứng nhân lực cho các dự án đầu tư cũng sẽ bị ảnh hưởng.
“Chính sách cần giải quyết hài hòa cả hai yêu cầu: tạo điều kiện để người lao động có nhiều cơ hội nâng cao thu nhập hơn ở nước ngoài, đồng thời phải đảm bảo nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển kinh tế trong nước. Không để cạnh tranh nguồn lao động giữa thị trường trong nước và thị trường quốc tế làm suy giảm tính hấp dẫn của môi trường đầu tư và động lực phát triển của nền kinh tế đất nước”, ông Trần Văn Lâm đề xuất.
Đại biểu Lâm đề nghị cân nhắc không quy định theo hướng ưu tiên đưa người lao động đã qua đào tạo có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao đi làm việc ở nước ngoài, mà sửa theo hướng khuyến khích, nâng cao chất lượng người lao động tham gia thị trường lao động quốc tế gắn với chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ. Bên cạnh đó, có cơ chế hiệu quả để thu hút, kết nối và sử dụng người lao động sau khi trở về mang kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và tác phong lao động tích lũy được ở nước ngoài tiếp tục đóng góp cho sự phát triển đất nước.
Giải trình về vấn đề này, Bộ trưởng Nội vụ Nguyễn Tiến Hải cho biết, chính sách đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là chính sách "kép", vừa đưa lao động có tay nghề, chuyên môn ra nước ngoài làm việc, vừa có cơ chế thu hút, phát huy hiệu quả nguồn nhân lực này khi trở về nước.
Việc sửa đổi luật nhằm thể chế hóa chủ trương phát triển nguồn nhân lực của Đảng, Nhà nước; đồng thời coi lao động ngoài nước là một kênh đào tạo nhân lực thông qua môi trường làm việc hiện đại, kỷ luật tại các nước phát triển. Kinh nghiệm, kỹ năng tích lũy được sẽ trở thành nguồn lực quý giá phục vụ phát triển đất nước.
Dự thảo cũng thay tiêu chí "ngành nghề Việt Nam có thế mạnh" bằng "lĩnh vực nhà nước ưu tiên phát triển", thể hiện tư duy chủ động chuẩn bị nguồn nhân lực cho các ngành động lực như công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ số, bán dẫn, logistics, nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
Theo Bộ trưởng, điểm mới của dự thảo là tập trung phát huy hiệu quả nguồn lao động sau khi về nước, đặc biệt thông qua kết nối việc làm phù hợp với kinh nghiệm và kỹ năng đã tích lũy, hình thành vòng tuần hoàn lao động hiệu quả.
Cũng trong phiên thảo luận, đại biểu Trần Đình Gia (Hà Tĩnh) đề cập đến lực lượng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng hoặc đi thăm thân, chữa bệnh, du học sau đó tham gia thị trường lao động nước ngoài. Theo ông, rất nhiều người ở địa phương đi lao động nước ngoài sau một thời gian làm việc đã tự ý bỏ hợp đồng, ra ngoài làm việc bất hợp pháp. Việc này dẫn đến nhiều thị trường không nhận lao động của một số địa phương, làm ảnh hưởng đến lợi ích chính đáng của những người khác muốn đi lao động nước ngoài. Luật cần có chế tài nghiêm khắc hơn đối với các trường hợp vi phạm.
Ông Gia đề xuất cấm xuất cảnh những trường hợp tham gia lao động vi phạm pháp luật ở nước ngoài, tránh tình trạng một người đi lao động ở nước này vi phạm pháp luật rồi về lại đi lao động ở nước khác.