Số hộ đấu nối nước sạch nông thôn Đắk Nông chỉ gần 37% công suất

Ngành chức năng tỉnh Đắk Nông vừa tiến hành tổng điều tra, rà soát thực trạng các công trình cấp nước sạch nông thôn trên địa bàn toàn tỉnh.

Kết quả rà soát cho thấy, phần lớn các công trình hoạt động kém hiệu quả và số hộ sử dụng nước thực tế thấp hơn rất nhiều so với hồ sơ thiết kế khi xây dựng công trình.

Cụ thể, thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh Đắk Nông về rà soát, phân loại, kiểm tra hiện trạng các công trình nước sạch nông thôn, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Nông xác định, toàn tỉnh hiện có 262 công trình nước sạch tập trung nông thôn được đầu tư, xây dựng với tổng vốn đầu tư gần 500 tỷ đồng. Thời gian xây dựng từ 2004 đến 2021.

Tổng công suất theo thiết kế của toàn bộ các công trình này gần 20.000 m3/giờ; tổng số hộ đấu nối theo thiết kế hơn 36.000 hộ. Trên thực tế, công suất chỉ 7.900 m3/giờ (chỉ bằng chưa tới 40% so với thiết kế); tổng số hộ đấu nối gần 13.300 hộ, đạt gần 37%.

Hiện, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên khai thác công trình thủy lợi Đắk Nông được giao quản lý, vận hành nhiều nhất các công trình nước sạch nông thôn với 95 công trình; kế đến là Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn (trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Nông) với 11 công trình; các chủ đầu tư (Ban Quản lý dự án và phát triển quỹ đất, Phòng Dân tộc các huyện, thành phố) quản lý 20 công trình; còn lại là UBND các xã, phường, thị trấn quản lý.

Cũng theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Nông, hiện toàn tỉnh có hơn 50 công trình cần được nâng cấp, sửa chữa để cấp nước cho người dân. Mặt khác, toàn tỉnh cũng có 133 (chiếm hơn 50% tổng số) công trình đã ngưng hoạt động, người dân không còn nhu cầu sử dụng nước từ công trình.

Liên quan tới việc sửa chữa, nâng cấp các công trình cấp nước tập trung, tháng 2/2024, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên khai thác công trình thủy lợi Đắk Nông đã có công văn đề nghị UBND tỉnh Đắk Nông bố trí kinh phí 50 tỷ đồng để sửa chữa, nâng cấp 19 công trình do đơn vị quản lý. Cũng theo công ty này, nhiều công trình có số khách hàng sử dụng thấp (chủ yếu dưới 100 khách hàng, có công trình chỉ có 12 khách hàng) và đơn giá thu tiền nước hiện nay rất thấp (chỉ từ 3.500 - 7.500 đồng/m3), thấp hơn nhiều so với quy định của Bộ Tài chính. Do đó, công ty không có nguồn kinh phí để sửa chữa, nâng cấp công trình để đảm bảo cấp nước an toàn.

Hiện, UBND tỉnh Đắk Nông đang giao Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Dân tộc tỉnh Đắk Nông và các đơn vị liên quan trả lời kiến nghị của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên khai thác công trình thủy lợi Đắk Nông và tham mưu, đề xuất UBND tỉnh phương án xử lý theo quy định.

Hưng Thịnh (TTXVN)

Dành cho bạn

Gần 4 tỷ đồng cải thiện các điểm trường vùng cao Điện Biên

Gần 4 tỷ đồng cải thiện các điểm trường vùng cao Điện Biên

Ngày 7/9, nhiều phòng học, nhà nội trú, nhà công vụ và trang thiết bị trị giá gần 4 tỷ đồng được bàn giao tại xã Xa Dung, tỉnh Điện Biên. Các công trình góp phần cải thiện điều kiện học tập, sinh hoạt cho hơn 300 học sinh, giáo viên tại địa bàn vùng cao còn nhiều khó khăn.
Xây dựng ‘lũy thép lòng dân’ nơi biên cương Tổ quốc

Xây dựng ‘lũy thép lòng dân’ nơi biên cương Tổ quốc

Các mô hình, chương trình, phong trào Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tham gia xây dựng biên giới vững mạnh không chỉ làm thay đổi diện mạo vùng biên giới, mà còn bồi đắp niềm tin sắt son của đồng bào các dân tộc thiểu số đối với Đảng, Nhà nước.
Nghị quyết số 20-NQ/TW: An Giang vươn ra biển lớn từ hệ thống 8 đô thị động lực

Nghị quyết số 20-NQ/TW: An Giang vươn ra biển lớn từ hệ thống 8 đô thị động lực

Thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về “Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh”, tỉnh An Giang tập trung nguồn lực, quyết tâm vươn ra biển lớn từ việc quy hoạch và phát triển các đô thị động lực. Bước đi chiến lược này không chỉ tạo lập tâm điểm tăng trưởng mới cho địa phương mà còn khẳng định tầm nhìn dài hạn, góp phần đưa cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long bứt phá, kết nối mạnh mẽ với không gian kinh tế biển quốc tế.