Trước những quan tâm của dư luận và người dân, cơ quan chuyên môn thành phố Hà Nội khẳng định an toàn phòng, chống lũ là nguyên tắc hàng đầu, các giải pháp quy hoạch phải tiếp tục được tính toán, kiểm tra và thẩm định chặt chẽ trước khi triển khai.
Chênh lệch cần được làm rõ bằng cơ sở khoa học
Phạm vi điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng kéo dài khoảng 40 km, từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở, có quy mô nghiên cứu khoảng 11.418 ha, thuộc địa giới hành chính của 16 xã, phường. Phần mặt nước chiếm khoảng 3.626 ha, đất sản xuất nông nghiệp khoảng 5.741 ha, đất ở dân cư khoảng 1.102 ha và các loại đất khác khoảng 949 ha.
Khu vực này vừa là nơi sinh sống, sản xuất của khoảng 279.525 người, vừa là hành lang thoát lũ đặc biệt quan trọng của Thủ đô. Vì vậy, mọi phương án xây dựng công trình, tôn cao bãi sông, bố trí giao thông và tổ chức lại không gian dân cư đều phải được đánh giá về tác động đối với dòng chảy, mực nước, vận tốc lũ, ổn định lòng dẫn và an toàn của hệ thống đê điều.
Quyết định số 257/QĐ-TTg ngày 18/2/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phòng, chống lũ và quy hoạch đê điều hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình xác định nguyên tắc bảo đảm an toàn phòng, chống lũ có tính đến tác động của biến đổi khí hậu; thực hiện đồng bộ các giải pháp công trình và phi công trình, đồng thời dành điều kiện ứng phó với những tình huống bất thường chưa lường hết được.
Theo hồ sơ đang lấy ý kiến, diện tích xây dựng và tôn cao bãi sông được đề xuất khoảng 3.900 ha, trong khi mức giới hạn được xác định theo Quyết định số 257/QĐ-TTg là 2.128 ha. Như vậy, diện tích đề xuất tăng khoảng 1.772 ha, tương đương hơn 83% so với mức nêu trong quy hoạch phòng, chống lũ và đê điều hiện hành.
Hồ sơ cho biết đề xuất được xây dựng trên cơ sở báo cáo lập mô hình tính toán thủy văn, thủy lực, đánh giá tác động đến an toàn thoát lũ do Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam thực hiện. Nội dung này đã được UBND thành phố Hà Nội và Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét tại Thông báo số 467/TB-(BNNMT-UBTPHN) ngày 6/5/2026.
Theo thông tin được công bố, việc tính toán được thực hiện trên cơ sở khảo sát địa hình, địa chất, thủy văn, thủy lực, bùn cát và hiện trạng chỉnh trị sông; sử dụng mô hình thủy văn, thủy lực một chiều và hai chiều đã được hiệu chỉnh, kiểm định bằng số liệu thực đo. Phương án cũng xem xét kịch bản lũ có chu kỳ lặp lại 500 năm, có tính đến tác động của biến đổi khí hậu đến năm 2100, vận hành hệ thống hồ chứa thượng nguồn, ảnh hưởng của thủy triều và biến động bùn cát.
Tuy nhiên, kết quả mô hình mới là một trong những căn cứ chuyên môn phục vụ quá trình lập quy hoạch. Khi diện tích đề xuất xây dựng và tôn cao bãi sông tăng đáng kể, các giả thiết đầu vào, kịch bản lũ, cao độ san nền, mức độ cản trở dòng chảy và tác động cộng dồn của các khu vực can thiệp cần tiếp tục được kiểm tra, thẩm định theo quy định.
Người dân quan tâm đến an toàn phòng, chống lũ
An toàn phòng, chống lũ là một trong những nội dung được dư luận và người dân quan tâm trong quá trình góp ý đối với hồ sơ quy hoạch. Tại Hội nghị trực tuyến tiếp nhận, tổng hợp ý kiến và trả lời nhân dân do Sở Xây dựng Hà Nội tổ chức ngày 17/9/2026, điểm cầu chính đặt tại trụ sở UBND thành phố và kết nối tới 126 xã, phường, cơ quan chức năng đã tiếp nhận hơn 100 ý kiến của trên 30 đại diện cộng đồng dân cư.
Các ý kiến tập trung vào tám nhóm vấn đề, trong đó có an toàn phòng, chống lũ; bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư; bảo tồn di sản, di tích; tiến độ các dự án thành phần; sử dụng đất, cảnh quan; giao thông và hạ tầng kỹ thuật; sinh kế, an sinh xã hội và duy trì cấu trúc cộng đồng.
Một số người dân đề nghị thành phố cung cấp đầy đủ hơn thông tin về phạm vi bị tác động, các giải pháp kỹ thuật và lộ trình triển khai. Đối với vấn đề phòng, chống lũ, những băn khoăn tập trung vào khả năng bảo đảm dòng chảy, an toàn đê điều và tác động của hoạt động xây dựng, tôn cao bãi sông đối với khu vực dân cư hiện hữu.
Trả lời các vấn đề người dân quan tâm tại hội nghị ngày 17/9, ông Đào Minh Tâm, Phó Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội, khẳng định an toàn phòng, chống lũ là nguyên tắc được đặt lên hàng đầu trong đề xuất giải pháp quy hoạch và sử dụng đất.
Theo ông Đào Minh Tâm, các giải pháp kỹ thuật đang được đưa vào mô hình tính toán để đánh giá khả năng đáp ứng tiêu chuẩn. Cơ quan chuyên môn sẽ tiếp tục kiểm tra, đánh giá trước khi triển khai, bảo đảm ổn định dòng chảy, chỉnh trị dòng sông, không gây xói lở và không ảnh hưởng đến khu vực bãi sông.
Cũng tại Hội nghị trực tuyến ngày 17/9, ông Đào Duy Hưng, Phó Viện trưởng Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội, cho biết phương án quy hoạch được nghiên cứu trên cơ sở mô hình thủy lực, với các số liệu về thủy lực, an toàn thoát lũ và cao độ thiết kế; đồng thời lồng ghép các giải pháp tiêu thoát nước phù hợp với mùa mưa lũ và mùa cạn.
Theo đại diện Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội, trong tổng thể hệ thống sông qua Hà Nội, đồ án còn nghiên cứu phương án khôi phục dòng chảy của sông Tích, sông Đáy, hướng tới đồng thời bảo đảm an toàn và giữ nước phục vụ yêu cầu phát triển.
Những thông tin được cơ quan chuyên môn đưa ra bước đầu giải đáp nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu. Tuy nhiên, để làm rõ trực tiếp mức tăng 1.772 ha, hồ sơ cần tiếp tục phân định cụ thể phần diện tích tăng thêm nằm tại khu vực nào, bao nhiêu diện tích dành cho xây dựng công trình, bao nhiêu diện tích cần tôn cao và tác động của từng khu vực đối với khả năng thoát lũ.
Nhìn nhận trong tổng thể yêu cầu
Con số 3.900 ha trong hồ sơ là diện tích đề xuất “xây dựng và tôn cao bãi sông”. Chỉ tiêu này tự thân không đồng nghĩa toàn bộ diện tích trên sẽ trở thành đất ở hoặc được xây dựng công trình cao tầng. Để người dân và giới chuyên môn có cơ sở góp ý, hồ sơ cần làm rõ cơ cấu sử dụng đất, gồm diện tích xây dựng công trình, giao thông, công viên, không gian công cộng, diện tích tôn cao và các khu vực tiếp tục duy trì chức năng sinh thái, thoát lũ.
Theo phương án đang nghiên cứu, việc khai thác không gian bãi sông được phân theo ba mức thềm địa hình. Khu vực có cao độ trên 11,5 m được xác định là nơi có thể nghiên cứu xây dựng mới; khu vực từ 9,5 - 11,5 m được tổ chức theo hướng linh hoạt, bố trí công trình thích ứng và duy trì dân cư hiện có; khu vực dưới 9,5 m ưu tiên phục hồi sinh thái, giao thông chậm và cảnh quan đường dạo.
Cách tiếp cận này nhằm phân loại không gian theo cao độ, mức độ ngập và khả năng thích ứng, thay vì áp dụng một mô hình phát triển giống nhau trên toàn bộ bãi sông. Tuy nhiên, cao độ tự nhiên không phải là căn cứ duy nhất để xác định khu vực đủ điều kiện xây dựng. Mỗi vị trí còn phải được đánh giá về hướng dòng chảy, vận tốc lũ, nguy cơ xói lở, bồi lắng, khoảng cách tới đê và ảnh hưởng đối với các khu vực lân cận.
Hồ sơ nêu nguyên tắc không thu hẹp không gian thoát lũ; không đề xuất giải pháp xây đê mới nằm trong đê hiện hữu; không làm suy giảm khả năng thoát lũ của sông Hồng. Phương án hướng tuyến đường bộ được nghiên cứu bám sát hệ thống đê hiện hữu nhằm tận dụng hạ tầng, hạn chế can thiệp bất lợi vào không gian dòng sông.
Một số giải pháp thích ứng được đề xuất như sử dụng mô-đun kiến trúc có khả năng tháo dỡ đối với công trình cảnh quan, tổ chức đê lũ sinh thái dạng bậc thang và vườn mưa giữ phù sa. Việc áp dụng các giải pháp này tại đâu, với quy mô và tiêu chuẩn kỹ thuật như thế nào vẫn phải căn cứ kết quả đánh giá an toàn cụ thể.
Từ góc độ quy hoạch, KTS Phạm Thanh Tùng, Chánh Văn phòng Hội Kiến trúc sư Việt Nam, lưu ý không nên hiểu quy hoạch Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng là xây dựng kín hai bên sông để hình thành một đại đô thị. Theo ông, quy hoạch phải được nhìn nhận trong tổng thể yêu cầu đồng bộ không gian, bảo đảm an toàn phòng, chống lũ, bảo vệ hệ sinh thái và lợi ích của cộng đồng ven sông.
Phát triển không gian hai bên sông Hồng là yêu cầu quan trọng trong tầm nhìn dài hạn của Hà Nội. Tuy nhiên, dòng sông trước hết phải thực hiện chức năng thoát lũ và bảo vệ an toàn cho Thủ đô.
Đề xuất tăng 1.772 ha diện tích xây dựng, tôn cao bãi sông chỉ có thể được xem xét khi phạm vi can thiệp được xác định rõ, kết quả tính toán được thẩm định chặt chẽ và phương án cuối cùng chứng minh không làm gia tăng rủi ro đối với hệ thống đê điều, dòng chảy và cộng đồng dân cư.