Sự kiện nhằm đánh giá thực trạng, tháo gỡ khó khăn và đề ra các giải pháp thúc đẩy việc đưa các kết quả nghiên cứu, sáng chế vào phục vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Nhằm đưa tài sản trí tuệ trở thành động lực phát triển thực chất, Cần Thơ đặt mục tiêu đến năm 2030 có số lượng đơn đăng ký và văn bằng bảo hộ sáng chế tăng bình quân 16 - 18%/năm; tỷ lệ khai thác thương mại đạt 8 - 10%; số đơn đăng ký nhãn hiệu tăng 8 - 10%/năm; đồng thời hỗ trợ tối thiểu 60% sản phẩm chủ lực, đặc thù và sản phẩm OCOP của thành phố trong quản lý, phát triển tài sản trí tuệ.
Để hiện thực hóa các mục tiêu này, bà Lê Mỹ Hạnh, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ cho biết, Sở tập trung triển khai các nhóm giải pháp trọng tâm như đẩy mạnh tuyên truyền, tập huấn, chuyển trọng tâm từ hỗ trợ đăng ký bảo hộ sang hỗ trợ phát triển, khai thác tài sản trí tuệ gắn với mở rộng thị trường. Ngành chức năng cũng hướng dẫn doanh nghiệp nhận diện, đánh giá tiềm năng và phối hợp với chuyên gia hỗ trợ định giá, đàm phán, thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ; tăng cường kết nối cung - cầu công nghệ giữa viện, trường với doanh nghiệp; hoàn thiện quy chế quản lý, kiểm soát chất lượng, ứng dụng công nghệ số và truy xuất nguồn gốc cho các sản phẩm mang thương hiệu cộng đồng; đồng thời tiếp tục hoàn thiện các chính sách hỗ trợ định giá, chuyển giao và tăng cường phối hợp liên ngành. Trong thời gian tới, ngành khoa học và công nghệ thành phố sẽ tiếp tục giữ vai trò cầu nối, chủ động tham mưu các giải pháp sát thực tế nhằm hình thành hệ sinh thái khai thác và thương mại hóa tài sản trí tuệ đồng bộ, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
TS. Nguyễn Hữu Cẩn, Quyền Viện Trưởng Viện Sở hữu trí tuệ quốc gia, chia sẻ giải pháp quản lý, khai thác tài sản trí tuệ gắn với chuyển đổi số và phát triển kinh tế số.
Để tài sản trí tuệ thực sự trở thành động lực phát triển, tại hội thảo, các chuyên gia, nhà khoa học, đại diện doanh nghiệp và các cơ quan quản lý tập trung đánh giá thực trạng quản lý, khai thác và định giá tài sản trí tuệ gắn với chuyển đổi số, kinh tế số; qua đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy thương mại hóa hiệu quả cho thành phố trong thời gian tới.
Hoạt động tạo lập và xác lập quyền sở hữu trí tuệ trên địa bàn thành phố Cần Thơ thời gian qua đã có bước phát triển đáng kể. Tính đến nay, toàn thành phố ghi nhận 12.187 đơn đăng ký sở hữu công nghiệp, bao gồm 11.525 nhãn hiệu, 421 kiểu dáng công nghiệp và 241 sáng chế. Tổng số văn bằng bảo hộ đã được cấp đạt khoảng 8.856 văn bằng, gồm 8.478 nhãn hiệu, 295 kiểu dáng công nghiệp và 83 sáng chế. Hằng năm, số văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp của thành phố tăng bình quân 40%, số đơn đăng ký sáng chế tăng 10% và tỷ lệ sáng chế được khai thác thương mại đạt 8%. Cần Thơ đã đăng ký thành công 3 chỉ dẫn địa lý, 9 nhãn hiệu chứng nhận và 42 nhãn hiệu tập thể.
Để đạt được kết quả trên, thành phố đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ, trong đó có Nghị quyết số 36/2025/NQ-HĐND của HĐND thành phố quy định mức hỗ trợ đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệ đến năm 2030 và Quyết định số 2724/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND thành phố phê duyệt Chương trình phát triển tài sản trí tuệ đến năm 2030. Từ năm 2021 đến nay, Cần Thơ đã dành kinh phí hỗ trợ hơn 250 doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ trong và ngoài nước; đồng thời triển khai 20 nhiệm vụ khoa học và công nghệ về tạo lập, khai thác tài sản trí tuệ, với tổng kinh phí hơn 30 tỷ đồng.
TS. Khổng Quốc Minh, Cục Đổi mới sáng tạo (Bộ Khoa học và Công nghệ), đề xuất giải pháp phát triển khoa học và công nghệ, sở hữu trí tuệ và đổi mới sáng tạo.
Dù công tác xác lập quyền đạt nhiều kết quả tích cực, hoạt động khai thác và thương mại hóa tài sản trí tuệ tại Cần Thơ vẫn còn một số khó khăn, hạn chế. Nhiều doanh nghiệp mới chỉ tập trung vào việc đăng ký bảo hộ mà chưa chú trọng xây dựng chiến lược khai thác, phát triển giá trị sản phẩm sau khi được cấp bằng.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn thiếu nhân lực chuyên trách, kiến thức và kinh nghiệm trong định giá, khai thác cũng như chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ. Việc kết nối giữa các viện nghiên cứu, trường đại học - nơi nắm giữ nhiều sáng chế, giải pháp kỹ thuật tiềm năng với cộng đồng doanh nghiệp vẫn chưa thực sự hiệu quả. Ngoài ra, các nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận và chỉ dẫn địa lý chưa phát huy hết giá trị do hạn chế trong quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc và quảng bá thị trường.