Phú Thọ mở rộng diện tích sản xuất chè an toàn

Phú Thọ đặt mục tiêu đến năm 2020 có diện tích áp dụng các quy trình sản xuất chè bền vững đạt khoảng 50%; đảm bảo tỷ lệ sản xuất chè xanh từ 15% lên trên 30%…

Tỉnh sẽ đổi mới hình thức tổ chức sản xuất, khuyến khích liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm. Các doanh nghiệp chế biến chè xây dựng và hoàn thiện được hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO - 9001: 2000 và hệ thống an toàn thực phẩm HACCP trong quá trình chế biến. Các địa phương, người trồng chè coi trọng việc bảo đảm an toàn trong toàn bộ quy trình sản xuất, thu hoạch chè...      

Phú Thọ mở rộng diện tích sản xuất chè an toàn ảnh 1

Thu hoạch chè ở xã Địch Quả, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Ảnh: Vũ Sinh - TTXVN

Ông Trần Tú Anh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh cho biết: Phú Thọ là tỉnh đứng thứ 4 về diện tích, thứ 3 về sản lượng chè trong cả nước với tổng diện tích năm 2015 đạt 16,5 nghìn ha. Diện tích chè cho sản phẩm là trên 15.000 ha với năng suất bình quân hơn 101 tạ/ha; sản lượng chè búp tươi ước đạt 154,7 nghìn tấn. Diện tích chè giống mới, chè chất lượng cao khoảng 71,5% tổng diện tích, cơ cấu giống khá đa dạng. Tổng diện tích chè được chứng nhận an toàn đạt 4.000 ha gồm các chứng nhận VietGAP, Rainforest Alliance, UTZ… Hàng năm, khoảng 8.000 tấn chè khô các loại của tỉnh xuất khẩu, còn lại là bán qua các doanh nghiệp trong nước.

Trong điều kiện hội nhập sâu rộng, sản phẩm chè xuất khẩu ngày càng đòi hỏi yêu cầu gắt gao về vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm cũng như dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Do đó, việc triển khai  mô hình trồng chè an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP là đòi hỏi tất yếu. Ở Phú Thọ các mô hình sản xuất chè an toàn thuộc Dự án “Nâng cao chất lượng, an toàn sản phẩm nông nghiệp” (QSEAP) đạt hiệu quả cao đang xuất hiện ngày càng nhiều tại khắp các vùng trọng điểm sản xuất chè của tỉnh như Đoan Hùng, Hạ Hòa, Thanh Ba, Thanh Sơn...  

Tại huyện Đoan Hùng, nhiều năm qua địa phương triển khai đồng bộ giải pháp phát triển vùng chè an toàn và bền vững. Huyện áp dụng kỹ thuật thâm canh tạo ra sản phẩm nguyên liệu an toàn gắn liền vùng sản xuất với tiêu thụ để từng bước nâng cao sản lượng, giá trị và hiệu quả cây chè. Đồng thời, ngành công nghiệp hướng dẫn nông dân trồng mới và thay thế diện tích chè cũ kém năng suất bằng các giống chất lượng cao; đẩy mạnh bón phân thâm canh và áp dụng đốn, hái, bảo vệ thực vật theo kỹ thuật tiên tiến.  

Theo ông Nguyễn Hồng Lê, Phó Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đoan Hùng, huyện tổ chức lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật về trồng mới, thâm canh, phòng trừ dịch bệnh trên chè; kỹ thuật sản xuất chè an toàn, chè hữu cơ; đồng thời, đẩy mạnh cơ giới hóa, đưa các thiết bị công nghệ hiện đại vào chế biến. Tính đến năm 2015, diện tích chè giống mới có năng suất, chất lượng cao như LDP1, PH11, LDP2 tăng 30% so với năm 2010. Giá trị cho sản phẩm chè cũng theo đó được nâng lên.   

Theo ông Nguyễn Trung Thành, đại diện Hợp tác xã sản xuất, chế biến, dịch vụ thương mại chè Minh Tiến cho hay, khi áp dụng quy trình sản xuất chè an toàn, giá trị sản phẩm tăng từ 10 - 15% so với chè sản xuất thông thường tại địa phương. Các thành viên của hợp tác xã Minh Tiến cũng chủ động sản xuất chè theo quy trình sản xuất an toàn. Nhờ vậy, đầu ra cũng đảm bảo hơn do khách hàng tin tưởng bởi sản phẩm có truy xuất nguồn gốc.

Đến nay, Hợp tác xã quản lý gần 60 ha chè với 100% là chè giống mới; mỗi năm cung cấp cho Công ty chè Phú Bền trên 700 tấn chè búp tươi. Ngoài ra, Hợp tác xã tổ chức thu mua chè của các hộ dân trong vùng (hộ sản xuất chè an toàn) về sản xuất chế biến chè khô cung cấp cho thị trường. Trong năm 2016, doanh thu hợp tác xã đã đạt hơn 8 tỷ đồng; thu nhập bình quân đạt trên 5 triệu đồng/người/tháng, cao hơn nhiều so với hình thức sản xuất theo phương thức truyền thống trước đây.  

Từ sản xuất chè theo hướng an toàn, năng suất, chất lượng, giá trị chè của tỉnh Phú Thọ được nâng lên, đáp ứng nhu cầu của thị trường, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống và thực hiện tốt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới ở địa phương.

Tạ Văn Toàn

Dành cho bạn

Xây dựng ‘lũy thép lòng dân’ nơi biên cương Tổ quốc

Xây dựng ‘lũy thép lòng dân’ nơi biên cương Tổ quốc

Các mô hình, chương trình, phong trào Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tham gia xây dựng biên giới vững mạnh không chỉ làm thay đổi diện mạo vùng biên giới, mà còn bồi đắp niềm tin sắt son của đồng bào các dân tộc thiểu số đối với Đảng, Nhà nước.
Nghị quyết số 20-NQ/TW: An Giang vươn ra biển lớn từ hệ thống 8 đô thị động lực

Nghị quyết số 20-NQ/TW: An Giang vươn ra biển lớn từ hệ thống 8 đô thị động lực

Thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về “Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh”, tỉnh An Giang tập trung nguồn lực, quyết tâm vươn ra biển lớn từ việc quy hoạch và phát triển các đô thị động lực. Bước đi chiến lược này không chỉ tạo lập tâm điểm tăng trưởng mới cho địa phương mà còn khẳng định tầm nhìn dài hạn, góp phần đưa cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long bứt phá, kết nối mạnh mẽ với không gian kinh tế biển quốc tế.
Gieo sức sống mới cho văn hóa nghệ thuật Khmer

Gieo sức sống mới cho văn hóa nghệ thuật Khmer

Văn hóa, nghệ thuật Khmer chỉ thực sự được gìn giữ khi còn hiện diện trong đời sống cộng đồng và được thế hệ trẻ tiếp nối. Từ tiếng nhạc ngũ âm, điệu múa dân gian đến chữ viết, kiến trúc chùa, mỗi giá trị đều cần một môi trường để sống, được trao truyền và thích nghi với nhịp sống mới mà không mất đi bản sắc vốn có.