Phó Chủ tịch JETRO đánh giá cao nỗ lực cải thiện chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam

Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2020), phóng viên TTXVN tại Tokyo đã có cuộc phỏng vấn ông Hironobu Kitagawa, Phó Chủ tịch Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO).

Ông Kitagawa cho biết các doanh nghiệp nước ngoài đánh giá cao các nỗ lực của Việt Nam nhằm cải thiện chính sách thương mại quốc tế bằng cách theo sát các xu hướng trên thế giới. Đáng chú ý, các nỗ lực này bao gồm việc đưa vào thực thi Hiệp định thương mại song phương Việt - Mỹ, việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và tham gia Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).

Ông Kitagawa là một chuyên gia về Việt Nam và từng giữ chức Trưởng Đại diện Văn phòng JETRO tại Việt Nam. Dưới đây là nội dung cuộc phỏng vấn:

Chú thích ảnh
Phó Chủ tịch Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) Hironobu Kitagawa trả lời phỏng vấn phóng viên TTXVN. Ảnh: Thành Hữu/PV TTXVN tại Nhật Bản

Ông đánh giá như thế nào về các thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam 45 năm sau giải phóng, nhất là trong quá trình Đổi mới?

Kể từ khi Việt Nam bắt đầu chính sách Đổi mới vào năm 1986, nền kinh tế nước này đã phát triển mạnh mẽ. Theo Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam đã tăng gần 50 lần, từ 5 tỷ USD vào năm 1986 lên 245 tỷ USD vào năm 2018. Đó là tỷ lệ tăng trưởng cao nhất trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). So với tốc độ tăng trưởng GDP xấp xỉ 2,5 lần của Nhật Bản trong cùng giai đoạn, chúng ta có thể thấy nền kinh tế Việt Nam đã phát triển nhanh như thế nào. 

Một nguyên nhân dẫn tới sự tăng trưởng của Việt Nam là thành công trong việc thu hút các doanh nghiệp nước ngoài tới nước này và mở rộng hoạt động xuất khẩu. Về xuất khẩu, năm 1986, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam chưa bằng 1/10 của Malaysia hay Thái Lan. Tuy nhiên, vào năm 2018, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã tăng lên hơn 240 tỷ USD, bắt kịp các quốc gia láng giềng này.

Các nỗ lực của Việt Nam nhằm cải thiện chính sách thương mại quốc tế bằng cách theo sát các xu hướng trên thế giới đã được các doanh nghiệp nước ngoài đánh giá cao. Đáng chú ý, các nỗ lực này bao gồm việc đưa vào thực thi Hiệp định thương mại song phương Việt - Mỹ, gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và tham gia Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Các nỗ lực của Việt Nam nhằm tạo nền tảng cho một môi trường đầu tư mở cho hàng loạt quốc gia và khu vực, như việc tổ chức Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản, nơi các doanh nghiệp và tổ chức của Nhật Bản thảo luận với chính phủ của hai nước, hay Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF) với sự tham gia của các doanh nghiệp phương Tây, cũng góp phần không nhỏ vào các nỗ lực này.

Ông có đề xuất gì giúp các nhà lãnh đạo Việt Nam duy trì sự phát triển kinh tế bền vững của đất nước trong tương lai?

Trong cuộc khảo sát về tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp Nhật Bản ở châu Á và châu Đại Dương do JETRO tiến hành trong năm 2019, các doanh nghiệp Nhật Bản đánh giá Việt Nam cao nhất trong khối ASEAN khi có tới 63,9% trong số doanh nghiệp được hỏi cho biết họ dự định sẽ mở rộng hoạt động kinh doanh tại nước này. 

Về môi trường đầu tư, “quy mô thị trường và tiềm năng tăng trưởng” và “sự ổn định chính trị và xã hội” là hai nhân tố được các doanh nghiệp Nhật Bản đánh giá cao nhất. Có thể coi đây là lời khen ngợi về sự ổn định trong chính sách mở cửa nền kinh tế của Việt Nam với các quốc gia khác và hệ thống quản trị của nước này.

Tuy nhiên, có 61,1% doanh nghiệp tham gia cuộc khảo sát trên bày tỏ quan ngại về vấn đề “chi phí nhân công tăng”, 42,6% quan ngại về vấn đề “quản trị chính sách không rõ ràng của chính quyền địa phương” và 38,6% lo ngại về vấn đề “tỷ lệ nhân viên chuyển việc cao”. Đây chính là các nhân tố đứng đầu trong danh sách “các rủi ro liên quan tới môi trường kinh doanh”. 

Mặt khác, cho dù các doanh nghiệp tham gia cuộc khảo sát chỉ ra rằng các rủi ro liên quan tới các thủ tục hành chính đã giảm, nhưng khi được hỏi về các rủi ro trong quá trình kinh doanh ở Việt Nam, các doanh nghiệp Nhật Bản vẫn nêu ra một số rủi ro như việc giảm các ưu đãi đầu tư hay tình trạng thiếu điện. Theo tôi, việc giải quyết từng quan ngại này sẽ giúp tạo điều kiện cho việc tiếp tục đầu tư và mở rộng các dự án.

Trong thời qua qua, Chính phủ và các doanh nghiệp Nhật Bản đã đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Theo ông, chúng ta cần làm gì để thúc đẩy mối quan hệ tốt đẹp này trong tương lai?

Mặc dù cho đến thời điểm này, các doanh nghiệp nước ngoài, trong đó có các doanh nghiệp Nhật Bản, vẫn coi Việt Nam là cơ sở sản xuất nhưng tôi cho rằng Việt Nam đang phát triển ở tầm cao hơn. 

Chúng ta cần nhận thức rõ tiềm năng của sự hợp lực thông qua việc kết hợp tri thức của Nhật Bản và Việt Nam. Với sự ra đời của các kỳ lân như VNG (Công ty Cổ phần Tập đoàn Vina) trong lĩnh vực công nghệ thông tin, tiềm năng của Việt Nam có thể cao hơn so với Nhật Bản. Hoạt động giao lưu của giới thanh niên, như giữa các sinh viên đại học, và các nguồn nhân lực có kỹ năng cao của hai nước đóng vai trò rất quan trọng cho sự hợp lực này.

Bên cạnh đó, một lĩnh vực tiềm năng khác cho sự hợp lực giữa hai nước đó là nông, lâm và ngư nghiệp. Có gần 40% (chính xác là 37,7%) lực lượng lao động của Việt Nam đang làm việc trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, do lĩnh vực này chỉ chiếm chưa tới 20% (chính xác là 15%) GDP của Việt Nam nên cần phải nâng cao giá trị gia tăng trong ngành này.

Một nhà hàng Italy do một người Nhật Bản điều hành đang sản xuất pho mát không ủ chín bằng cách thu mua sữa trực tiếp từ những người chăn nuôi gia súc ở Đà Lạt và sau đó, bán lại cho chính nhà hàng này cũng như cho các khách sạn và hãng bán lẻ. Câu chuyện này đã thu hút sự chú ý của các phương tiện truyền thông ở Việt Nam cũng như nước ngoài.

Trân trọng cảm ơn ông!

Đào Thanh Tùng - Thành Hữu (TTXVN)

Dành cho bạn

Quảng Ninh: Quy hoạch xây mới 5 kho dự trữ xăng dầu

Quảng Ninh: Quy hoạch xây mới 5 kho dự trữ xăng dầu

Thành phố Quảng Ninh đã ban hành danh mục các công trình thu hút đầu tư xây dựng mới 5 kho dự trữ xăng dầu với tổng sức chứa từ 346.000 đến 376.000m3 nhằm hiện thực hóa Quy hoạch hạ tầng dự trữ, cung ứng xăng dầu, khí đốt quốc gia thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 .

Bảo vệ nguồn nước trước áp lực biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn

Bảo vệ nguồn nước trước áp lực biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn

Thành phố Cần Thơ nằm ở trung tâm vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có hệ thống sông, kênh, rạch dày đặc và nguồn nước mặt đóng vai trò quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt, công nghiệp và giao thông thủy. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa, phát triển sản xuất, biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn và ô nhiễm nguồn nước đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao về quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên nước.

Nghị quyết 10-NQ/TW: Những địa chỉ mới của dòng vốn FDI

Nghị quyết 10-NQ/TW: Những địa chỉ mới của dòng vốn FDI

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào TP Hồ Chí Minh đang có sự chuyển dịch rõ hơn về lĩnh vực và chất lượng. Bên cạnh các dự án sản xuất, nhiều nhà đầu tư đang quan tâm đến logistics, cảng biển, hạ tầng số, công nghệ cao và các dịch vụ có giá trị gia tăng cao, phù hợp với định hướng phát triển mới của thành phố.

Phố Wall nối dài đà tăng, bất ổn chính trị phủ bóng thị trường châu Âu

Phố Wall nối dài đà tăng, bất ổn chính trị phủ bóng thị trường châu Âu

Khép lại phiên giao dịch 5/10, thị trường chứng khoán hai bờ Đại Tây Dương ghi nhận diễn biến trái chiều. Trong khi chỉ số Nasdaq tại Mỹ thiết lập kỷ lục mới nhờ lực kéo từ nhóm cổ phiếu công nghệ, thị trường châu Âu chịu áp lực bán tháo do lo ngại về gánh nặng nợ công của Pháp và các bất ổn chính trị trong khu vực.