Phổ cập dịch vụ viễn thông công ích, nâng cao chất lượng kết nối Internet

Bộ Khoa học và Công nghệ vừa ban hành Thông tư hướng dẫn việc thực hiện yêu cầu về phổ cập dịch vụ viễn thông đối với từng loại hình dịch vụ viễn thông và đo tốc độ mạng Internet dịch vụ viễn thông công ích. Thông tư được xây dựng trên cơ sở Luật Viễn thông và Nghị định số 295/2025/NĐ-CP của Chính phủ, nhằm cụ thể hóa các yêu cầu về phổ cập dịch vụ viễn thông, đồng thời thiết lập phương thức đo kiểm thống nhất, khách quan đối với chất lượng truy nhập Internet.

Thông tư áp dụng đối với các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động viễn thông công ích tại Việt Nam.

Chú thích ảnh
Ảnh minh họa: TTXVN

Theo đó, việc phổ cập dịch vụ viễn thông phải bảo đảm nguyên tắc trung lập công nghệ, lựa chọn giải pháp phù hợp với địa hình, dân cư, nhu cầu sử dụng và hiệu quả đầu tư. Đối với dịch vụ băng rộng di động mặt đất, tốc độ tải xuống tối thiểu là 40 Mbit/s với 4G và 100 Mbit/s với 5G; tốc độ tải lên tương ứng tối thiểu 10 Mbit/s và 30 Mbit/s. Dịch vụ băng rộng cố định mặt đất phải đạt tốc độ tải dữ liệu tối thiểu 100 Mbit/s; băng rộng cố định vệ tinh có tốc độ tải xuống tối thiểu 40 Mbit/s và tải lên tối thiểu 10 Mbit/s.

Thông tư quy định việc xác định khu vực cần phổ cập dịch vụ dựa trên thực trạng phủ sóng và hạ tầng viễn thông tại các thôn, bản, khu dân cư, trong đó sử dụng hệ thống VNNIC Internet Speed và công cụ i-Speed để đo tốc độ truy nhập Internet. Kết quả đo được sử dụng để xác định các vị trí cần phổ cập và lập bản đồ số.

Việc đo tốc độ Internet phải bảo đảm trung thực, khách quan và phản ánh đúng chất lượng kết nối thực tế. Tại mỗi vị trí thực hiện 5 mẫu đo, các lần đo cách nhau tối thiểu 30 giây; kết quả được xác định bằng giá trị trung bình của 5 mẫu. Kết quả đo phải thể hiện thông tin về vị trí, thời gian, tốc độ tải xuống, tải lên và có xác nhận của các bên liên quan.

UBND các tỉnh, thành phố có trách nhiệm chỉ đạo Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các doanh nghiệp viễn thông lập bản đồ số, xác định vị trí các thôn, bản và khu vực khó khăn cần được phổ cập dịch vụ, vị trí các hộ dân cũng như vị trí dự kiến phát triển hạ tầng viễn thông. Các địa phương đồng thời thống kê số hộ dân, số dân trong từng khu vực và gửi bản đồ số, số liệu thống kê về Bộ Khoa học và Công nghệ, thông qua Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam để tổng hợp và triển khai hỗ trợ cung cấp dịch vụ.

Sở Khoa học và Công nghệ, UBND cấp xã, trưởng thôn hoặc hộ dân thụ hưởng có trách nhiệm phối hợp với doanh nghiệp viễn thông trong quá trình xác định vị trí, đo kiểm và triển khai dịch vụ.

Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam có trách nhiệm tiếp nhận, rà soát và tổng hợp danh sách các vị trí cần phổ cập dịch vụ do địa phương cung cấp; đồng thời xem xét phương án thiết kế sơ bộ do doanh nghiệp đề xuất, bảo đảm đáp ứng yêu cầu phổ cập. Việc hỗ trợ đầu tư không nhất thiết phải bảo đảm phủ sóng di động đến 100% số hộ dân nếu có những hộ nằm tại khu vực địa hình bị chia cắt, che chắn hoặc quá khó khăn về kỹ thuật, nhưng phải bảo đảm số hộ được phủ sóng là tối đa trong khả năng thực tế. Đối với các hộ dân đơn lẻ hoặc nằm ở khu vực chưa thể phủ sóng di động mặt đất, có thể xem xét các giải pháp công nghệ khác nhằm bảo đảm hiệu quả đầu tư.

Trung tâm Internet Việt Nam có trách nhiệm bảo đảm hệ thống i-Speed hoạt động an toàn, liên tục, ổn định; lưu trữ đầy đủ, chính xác dữ liệu đo để phục vụ kiểm tra, giám sát và nghiệm thu; đồng thời hướng dẫn, hỗ trợ kỹ thuật cho cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp viễn thông.

Các doanh nghiệp viễn thông có trách nhiệm phối hợp lập bản đồ số, đề xuất phương án công nghệ phù hợp với điều kiện địa hình và phân bố dân cư, tổ chức đo kiểm, báo cáo kết quả, duy trì chất lượng dịch vụ trong thời gian thực hiện nghĩa vụ viễn thông công ích và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của dữ liệu, kết quả đo do mình cung cấp.

Với các quy định cụ thể về tiêu chuẩn tốc độ, phương thức xác định khu vực cần phổ cập, quy trình đo kiểm và trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, Thông tư tạo cơ sở để triển khai thống nhất hoạt động phổ cập dịch vụ viễn thông công ích trên phạm vi cả nước. Việc kết hợp giữa bản đồ số, dữ liệu dân cư, dữ liệu vị trí và hệ thống đo i-Speed cũng góp phần nâng cao tính minh bạch, khách quan trong đánh giá chất lượng dịch vụ, đồng thời hỗ trợ cơ quan quản lý và doanh nghiệp lựa chọn giải pháp công nghệ phù hợp với từng khu vực.

Hoàng Vân (TTXVN)

Dành cho bạn

Bỉ: Thử nghiệm giao hàng bằng drone

Bỉ: Thử nghiệm giao hàng bằng drone

Trong khi Walmart đã giao thành công kiện hàng thứ một triệu bằng drone tại bốn bang của Mỹ từ hồi tháng 5 và Amazon đang chuẩn bị mở rộng dịch vụ giao hàng trên không tới gần 500 thành phố, thì Bỉ cũng đang dần bắt kịp xu hướng này với những bước đi thận trọng hơn.

Biến hạ tầng khoa học thành ‘nhà máy tạo công nghệ’

Biến hạ tầng khoa học thành ‘nhà máy tạo công nghệ’

Hạ tầng khoa học chỉ thực sự tạo ra năng lực công nghệ quốc gia khi không dừng ở phục vụ nghiên cứu mà trở thành hệ thống biến tri thức thành công nghệ, nguyên mẫu và sản phẩm. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy Việt Nam nên chuyển từ đầu tư phòng thí nghiệm sang xây dựng “nhà máy tạo công nghệ”.

'Vùng lõm sóng' sẽ kết nối bằng vệ tinh

'Vùng lõm sóng' sẽ kết nối bằng vệ tinh

Cục Viễn thông (Bộ Khoa học và Công nghệ) đã phối hợp với Công ty TNHH Starlink Services Việt Nam bàn giao thiết bị đầu cuối và dịch vụ vệ tinh Starlink cho các địa phương, nhằm hỗ trợ kết nối kịp thời cho các thôn lõm sóng.

Lấy làm chủ công nghệ chiến lược để đào tạo nhân lực

Lấy làm chủ công nghệ chiến lược để đào tạo nhân lực

Phát triển nhân lực công nghệ chiến lược không nên chỉ dừng ở mở ngành, tăng chỉ tiêu hay gửi người đi đào tạo. Kinh nghiệm Trung Quốc, Hàn Quốc cho thấy hướng hiệu quả hơn là đưa học viên trực tiếp tham gia quá trình nghiên cứu và phát triển (R&D) công nghệ, qua đó đồng thời tạo ra công nghệ và hình thành đội ngũ có khả năng làm chủ công nghệ.