Tổ chức liên kết theo dòng hàng
Một lô nông sản từ vùng trồng đến người mua có thể đi qua cơ sở sơ chế, kho lạnh, đơn vị vận tải, trung tâm phân phối rồi mới đến cảng xuất khẩu. Mỗi khâu nằm ở một địa phương và do một doanh nghiệp khác nhau đảm nhận. Vì vậy, dù cao tốc, cảng biển, sân bay và cửa khẩu đang mở thêm đường giao thương cho khu vực phía Nam, doanh nghiệp chỉ hưởng lợi đầy đủ khi các công trình ấy được kết nối với hoạt động sản xuất và vận chuyển hàng hóa.
Bài toán này xuất hiện trong nhiều ý kiến gửi đến Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026. Qua bốn phiên đối thoại tại Tây Ninh, An Giang, Cà Mau và Đồng Nai, Ban tổ chức ghi nhận 121 ý kiến, kiến nghị, đề xuất và nhóm sáng kiến. Khoảng 24,8% được giải quyết, làm rõ hoặc định hướng ngay tại phiên; 45,4% được địa phương tiếp thu xử lý; gần 30% phải chuyển lên các vòng tiếp theo hoặc cấp có thẩm quyền cao hơn. Doanh nghiệp phản ánh từ thủ tục, thông tin quy hoạch đến logistics, vốn, tiêu chuẩn, nhân lực, công nghệ và thị trường.
Tỷ lệ kiến nghị phải chuyển tiếp cho thấy, có những vướng mắc không thể giải quyết trong phạm vi một địa phương. Với doanh nghiệp, sự phối hợp ấy cần thể hiện ở những việc cụ thể như tiếp cận thông tin quy hoạch, lựa chọn tuyến vận chuyển, tìm dịch vụ kho bãi hoặc xác định nơi có thể gia công một công đoạn còn thiếu.
Ông Nguyễn Duy Khương, Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ TP Đồng Nai, cho rằng phía Nam có điều kiện để phối hợp theo cách đó. TP Hồ Chí Minh mạnh về tài chính, thương mại, nghiên cứu và phát triển công nghệ; Đồng Nai có công nghiệp chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và logistics; Tây Ninh là cửa ngõ thương mại xuyên biên giới; Đồng bằng sông Cửu Long có thế mạnh nông nghiệp, năng lượng và kinh tế biển. Ông đề nghị chuyển từ “cạnh tranh thu hút đầu tư cục bộ” sang “phân công hợp tác để cùng kiến tạo giá trị mới”.
Tại Đồng Nai, Cảng hàng không quốc tế Long Thành, cảng Phước An, cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu cùng các tuyến Vành đai 3, Vành đai 4 tạo ra nhiều khả năng kết nối. Song theo ông Khương, điều doanh nghiệp cần là hàng hóa đi nhanh hơn từ nơi sản xuất đến điểm giao nhận, chi phí logistics giảm và thời gian giao hàng ổn định hơn. Để đạt được điều đó, đường bộ, đường thủy, cảng biển, sân bay và trung tâm logistics phải được tổ chức thành mạng lưới phục vụ những dòng hàng thực tế.
Nhìn trên toàn khu vực, ông Đặng Hồng Anh, Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam, chỉ ra một phía là hệ thống cảng nước sâu kết nối thị trường quốc tế, một phía là cửa ngõ sang Campuchia và tiểu vùng sông Mê Công, ở giữa là không gian công nghiệp, đô thị và tiêu dùng lớn. Theo ông, tăng sản lượng chưa đủ; doanh nghiệp Việt Nam cần giữ được nhiều giá trị hơn trong sản phẩm, từ nguyên liệu, chế biến, logistics đến thương hiệu, sở hữu trí tuệ, dữ liệu thị trường và phân phối.
Từ Đồng bằng sông Cửu Long, bà Nguyễn Thị Mỹ Linh, Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ tỉnh An Giang, nêu một trở ngại ngay ở khâu sản xuất. Doanh nghiệp đã bán hàng theo chuỗi và theo nhu cầu thị trường, nhưng nhiều nguồn lực hỗ trợ vẫn được tổ chức riêng theo từng địa phương, từng chương trình. Một doanh nghiệp nhỏ có thể tìm được người mua, biết yêu cầu phải đáp ứng mà chưa đủ vốn đầu tư nhà xưởng, kho lạnh, thiết bị sơ chế, đóng gói, phòng kiểm nghiệm hoặc hệ thống xử lý môi trường. Nếu mỗi đơn vị đều tự trang bị toàn bộ, chi phí lớn trong khi thiết bị có thể không được sử dụng hết công suất.
Bà Linh đề xuất phát triển hạ tầng sản xuất và dịch vụ dùng chung theo từng chuỗi ngành hàng. Nhà nước lo quy hoạch, đất đai, hạ tầng kết nối và khung tiêu chuẩn; khu vực tư nhân đầu tư, vận hành thiết bị, dịch vụ. Doanh nghiệp nhỏ và vừa trả phí theo mức sử dụng. Cách phân vai này giúp doanh nghiệp tiếp cận điều kiện sản xuất cần thiết mà không phải sở hữu toàn bộ hệ thống. Nguồn: Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam.
Cùng với cơ sở dùng chung, mạng lưới nhà cung ứng cần bắt đầu từ nhu cầu mua hàng. Doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), nhà xuất khẩu và hệ thống phân phối cho biết họ cần sản phẩm gì, số lượng và tiêu chuẩn ra sao; doanh nghiệp trong nước được đánh giá khả năng đáp ứng để kết nối hoặc hỗ trợ hoàn thiện những điểm còn thiếu.
Tiến sĩ Trần Du Lịch đề nghị vùng Đông Nam Bộ lựa chọn các chuỗi sản phẩm ưu tiên, xác định doanh nghiệp đầu chuỗi, nhà cung ứng, những công đoạn chưa có đơn vị đảm nhận cùng nhu cầu công nghệ, nhân lực. Khi đó, hiệu quả liên kết có thể được nhìn qua số nhà cung ứng mới, hợp đồng thực hiện và phần giá trị doanh nghiệp Việt Nam tạo ra.
Doanh nghiệp phải đủ sức giữ đơn hàng
Tìm được khách hàng hoặc được giới thiệu vào một chuỗi cung ứng mới chỉ mở ra cơ hội. Để giữ đơn hàng, doanh nghiệp phải bảo đảm chất lượng ổn định, giao đúng hạn và có khả năng quản lý quá trình sản xuất. Qua các phiên đối thoại, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo đã trở thành nhu cầu chung, nhưng khả năng ứng dụng công nghệ còn chênh lệch, đặc biệt ở nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Yêu cầu về tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc và bảo hộ sở hữu trí tuệ cũng ngày càng gắn với việc tiếp cận thị trường.
Nhu cầu đầu tư vì thế không còn giới hạn ở nhà xưởng và máy móc. Doanh nghiệp cần kinh phí cho dữ liệu, phần mềm, chứng nhận, thương hiệu, đào tạo nhân sự và chuyển đổi xanh. Ông Đặng Hồng Anh cho rằng doanh nghiệp cũng phải tính đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, nâng kỹ năng lao động và cải thiện quản trị. Với doanh nghiệp lớn, các công việc này có thể nằm trong một kế hoạch đầu tư dài hạn. Với doanh nghiệp nhỏ, mỗi yêu cầu lại dễ trở thành một khoản chi phí, một thủ tục và một chương trình hỗ trợ riêng.
Từ thực tế đó, ông Đặng Hồng Anh đề nghị chính sách hỗ trợ được tổ chức thành lộ trình phù hợp với từng doanh nghiệp, kết nối vốn, công nghệ, tư vấn tiêu chuẩn, nhân lực và khách hàng. Doanh nghiệp cũng cần biết khoản đầu tư nào phải làm trước, khoản nào có thể triển khai sau, thay vì cùng lúc chạy theo mọi yêu cầu mới.
Cách đánh giá hỗ trợ cũng cần thay đổi. Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh cho rằng sau một chương trình xúc tiến thương mại phải xem doanh nghiệp có thêm đơn hàng hay không. Sau hỗ trợ chuyển đổi số, cần biết năng suất và chi phí thay đổi thế nào; sau hỗ trợ chứng nhận, sản phẩm có vào được hệ thống phân phối hoặc thị trường xuất khẩu không. Với hoạt động kết nối, cần theo dõi bao nhiêu biên bản ghi nhớ được tiếp tục triển khai thành hợp đồng. Những kết quả ấy cho thấy doanh nghiệp đã sử dụng được sự hỗ trợ đến đâu.
Khi năng lực bên trong được cải thiện, hoạt động giao thương quốc tế mới có thêm cơ sở để phát huy hiệu quả. Ông Nguyễn Kim Huy, Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ TP Hồ Chí Minh, cho biết Hội sẽ tăng cường kết nối với đối tác tại châu Âu, Bắc Mỹ và Dubai; đồng thời mở rộng giao thương với các hội doanh nhân trẻ ở những tỉnh, thành trong nước. Chức danh của ông Nguyễn Kim Huy được Hội công bố tại đây.
Ông Đặng Hồng Anh cho rằng, các chuyến giao lưu, ký kết cần hướng đến kết quả rõ ràng: sản phẩm Việt Nam vào được thị trường mới, doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu hoặc tìm được nguồn vốn, công nghệ và đối tác phù hợp. Bên cạnh kết nối kinh doanh, tổ chức Hội cần tập hợp những vướng mắc riêng lẻ của hội viên thành tiếng nói chung có dữ liệu, phân tích và đề xuất cụ thể để tham gia đối thoại chính sách.
Tiến sĩ Trần Du Lịch nhìn nhận, sức cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân cần được hình thành trong một hệ sinh thái có doanh nghiệp đầu chuỗi, doanh nghiệp nhỏ, khu vực FDI và các đơn vị nghiên cứu cùng tham gia. Những cụm liên kết có thể phát triển theo ngành cơ khí chế tạo, điện tử - bán dẫn, thực phẩm - nông nghiệp, dệt may - da giày. Trong mỗi ngành, doanh nghiệp cần xác định công đoạn mình làm tốt, sau đó nâng công nghệ, quản trị và chất lượng sản phẩm để đảm nhận phần việc có giá trị cao hơn.
Trong nhiệm kỳ 2026 - 2029, Hội Doanh nhân trẻ TP Hồ Chí Minh xác định lấy hội viên làm trung tâm, chú trọng đào tạo quản trị, hỗ trợ hội nhập, đối thoại chính sách và phát huy trách nhiệm xã hội. Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Được kỳ vọng có thêm những doanh nghiệp Việt Nam đủ khả năng cạnh tranh ở thị trường quốc tế, đồng thời giữ đạo đức kinh doanh và trách nhiệm với cộng đồng.
Từ tuyến vận chuyển hàng hóa giữa các địa phương đến cách một doanh nghiệp quản lý nhà xưởng, hai công việc cần được tiến hành cùng nhau: kết nối nguồn lực của vùng và nâng khả năng thực hiện của từng đơn vị. Khi doanh nghiệp giao được hàng đúng yêu cầu, có thêm khách hàng và giữ được phần việc có giá trị cao hơn, lợi thế về hạ tầng và thị trường mới chuyển thành sức cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân.