Người La Hủ ở Lai Châu

Theo người La Hủ thì La là hổ, Hủ là sóc, La Hủ nghĩa là mạnh như con hổ, khéo léo và nhanh như con sóc. Khi sang Việt Nam, các hộ gia đình người La Hủ sống trên các mỏm núi cao, khe suối, cách xa trung tâm, giữa các gia đình ở không gần nhau. Họ sống cô lập với bên ngoài...

Theo lời kể của nhiều bậc cao niên dân tộc La Hủ thì người La Hủ có gốc ở Tây Tạng (Trung Quốc), là một dân tộc mạnh, nhưng sau một trận chiến với các dân tộc khác bị thua trận và phải chạy trốn sang đất Việt để cư trú.

Nhưng có một số người như ông Thàng Phí Xè, 63 tuổi ở bản Pa Ủ; bà Ly Phu Xo, 80 tuổi ở bản Mu Chi (xã Pa Ủ) kể rằng, nguồn gốc tổ tiên của dân tộc mình là con vượn. Con vượn từ chỗ đi bằng bốn chân, ăn lông ở lỗ, sống theo bầy đàn, phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên, hoang dã; trong môi trường tự nhiên, để sinh tồn thì loài vượn đã có sự tiến hóa, thay đổi cho phù hợp, rồi dần đã phát triển thành người.

Tuy nhiên, để loài vượn tinh khôn trở thành người như ngày hôm nay phải trải qua một giai đoạn dài lịch sử của thời đại nguyên thủy. Vì vậy, vật tổ (tô tem) - a bủ, a bỉ (ông cụ, bà cụ) của người La Hủ chính là con vượn (mộ nã). Ngày xưa, người La Hủ tuyệt đối không được săn bắn, ăn thịt con vượn.

Người La Hủ ở Lai Châu ảnh 1

Bản Thăm Pa, xã Pa Ủ (huyện Mường Tè) ngày nay.


Theo người La Hủ thì La là hổ, Hủ là sóc, La Hủ nghĩa là mạnh như con hổ, khéo léo và nhanh như con sóc. Khi sang Việt Nam, các hộ gia đình người La Hủ sống trên các mỏm núi cao, khe suối, cách xa trung tâm, giữa các gia đình ở không gần nhau. Họ sống cô lập với bên ngoài, tự cung tự cấp, phương thức canh tác lạc hậu, phụ thuộc vào tự nhiên, đời sống khó khăn, bấp bênh nên dân tộc Thái gọi họ bằng tên gọi khinh miệt Trá Quy, vì người Thái cho rằng dân tộc mình là dân tộc lớn, chỉ sau dân tộc Kinh, còn các dân tộc khác thì ở dưới dân tộc mình (Trá: là có ý nghĩa khinh miệt một dân tộc nhỏ, lạc hậu, sống riêng rẽ; Quy: là chỉ dân tộc La Hủ). Vì vậy, dân tộc La Hủ ngày xưa không dám lại gần hay vào bản của dân tộc khác, nếu vào bản các dân tộc khác thì bị khinh miệt và xua đuổi. Chính vì thế mà dân tộc La Hủ thường cư trú ở trong rừng sâu, biệt lập với bên ngoài.

Người La Hủ ở Lai Châu ảnh 2

Sự hồn nhiên của những đứa trẻ La Hủ.

Người La Hủ ở Lai Châu ảnh 3

Ngày lễ, Tết người La Hủ đốt lửa cùng nhau vui múa xòe.


Sau khi giải phóng, người dân Tây Bắc thực sự thoát khỏi chế độ phong kiến; vào năm 1959 - 1960 thì chính quyền gọi dân tộc La Hủ bằng cái tên Khù Sung. Năm 1980, cán bộ của Ban Dân tộc Trung ương lên khảo sát, tìm hiểu, nghiên cứu và trả lại cho dân tộc này với tên gọi cũ là dân tộc La Hủ. Ngoài ra, dân tộc La Hủ còn được gọi với cái tên tộc Lá Vàng. Đây không phải tên gọi của dân tộc này, mà các dân tộc khác thấy người La Hủ sống du canh du cư, họ chỉ lợp lán sống tạm, khi nguồn thức ăn hết, lá lợp lán chuyển sang màu vàng thì họ lại dỡ bỏ đi nơi khác. Vì vậy mà các dân tộc gọi người La Hủ là dân tộc Lá Vàng.

Người La Hủ ở Lai Châu ảnh 4

Người La Hủ cần cù khai hoang làm nương, rẫy.


Năm 1964, cán bộ của Trung ương, của tỉnh, của huyện lên vận động và quy tụ các hộ gia đình dân tộc La Hủ về chọn đất lập bản, ở tập trung, gọi là “4 hóa, 3 không” - 4 hóa: hợp tác hóa, định canh định cư hóa, văn hóa hóa, quân sự hóa; 3 không: không nghe người xấu nói, không di cư, không hút thuốc phiện. Được sự giúp đỡ của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, người dân La Hủ ở xã Pa Ủ về sống tập trung như ngày hôm nay. Nhờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước nên đời sống của bà con dần ổn định, tăng cường khai hoang ruộng, nương, phát triển kinh tế, vươn lên dần thoát nghèo.

Bài và ảnh: Việt Hoàng

Dành cho bạn

Tổng hợp tin nóng quốc tế 24h - Ngày 23/9/2026

Tổng hợp tin nóng quốc tế 24h - Ngày 23/9/2026

Trong 24 giờ qua, thế giới diễn ra một số sự kiện đáng chú ý như: Tám nước Arab và Hồi giáo thúc đẩy lộ trình hòa bình tại Gaza; Mỹ, Đan Mạch, Greenland ký thỏa thuận an ninh; Iran nêu điều kiện mở lại eo biển Hormuz và Saudi Arabia cảnh báo căng thẳng với Houthi chưa hạ nhiệt.

Xử lý nhà đất dôi dư - Bài cuối

Xử lý nhà đất dôi dư - Bài cuối

Phương án phân loại đã định hình, nhu cầu tái sử dụng đã rõ, song từ chủ trương đến khi nhà, đất dôi dư thực sự đi vào hoạt động lại vướng hàng loạt "nút thắt" về thủ tục, quy hoạch và định giá.

Xử lý nhà, đất công dôi dư - Bài 2

Xử lý nhà, đất công dôi dư - Bài 2

Từ những trụ sở hành chính không còn sử dụng, nhiều công trình đã nhanh chóng "hồi sinh" khi được linh hoạt chuyển đổi sang phục vụ giáo dục, y tế, văn hóa và sinh hoạt cộng đồng. Cách làm này không chỉ giúp tiết kiệm ngân sách đầu tư công mà còn đáp ứng kịp thời các nhu cầu dân sinh cấp thiết.

Xử lý nhà, đất công dôi dư - Bài 1

Xử lý nhà, đất công dôi dư - Bài 1

Sau quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính, hàng nghìn cơ sở nhà, đất công dôi dư trên cả nước đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về quản lý và khai thác. Làm sao để tránh lãng phí, biến những trụ sở cũ thành nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội thay vì thành "gánh nặng" quản lý là bài toán đòi hỏi sự linh hoạt, phân cấp mạnh mẽ và tư duy xử lý sát với thực tiễn.