Người con của phố

Kể từ khi giành giải thưởng Bùi Xuân Phái Vì Tình yêu Hà Nội của Báo Thể thao& Văn hóa năm 2012, đến nay Nguyễn Ngọc Tiến (ảnh) vẫn không ngừng viết về Hà Nội. Những trang viết của anh đậm nét đời thường, góp phần tạo ra góc nhìn đa chiều về văn hóa và cuộc sống của mảnh đất, con người Hà Nội.

Kể từ khi giành giải thưởng Bùi Xuân Phái Vì Tình yêu Hà Nội của Báo Thể thao& Văn hóa (TTXVN) năm 2012, đến nay Nguyễn Ngọc Tiến (ảnh) vẫn không ngừng viết về Hà Nội. Khác với nghiên cứu của nhiều người trước đó, những trang viết của anh đậm nét đời thường, góp phần tạo ra góc nhìn đa chiều về văn hóa và cuộc sống của mảnh đất, con người Hà Nội.

Những trang viết cho Hà Nội

Nguyễn Ngọc Tiến liên tục ra mắt bạn đọc những cuốn sách về Hà Nội. Ban đầu là “5678 bước chân quanh Hồ Gươm” (2009), ba năm sau thì cùng lúc trình làng hai cuốn sách với tên gọi đầy ấn tượng “Đi ngang Hà Nội” và “Đi dọc Hà Nội”. Nếu “5678 bước chân quanh Hồ Gươm” là những chuyện quanh Hồ Gươm, trung tâm thành phố, nơi chứa đựng nhiều di tích lịch sử, văn hóa và huyền tích, thì “Đi ngang Hà Nội”, “Đi dọc Hà Nội” lại là những trang viết mà không ai đụng bút tới bởi đó là những điều còn ẩn chứa trong lớp trầm tích văn hóa bị thời gian bồi lấp.

Người con của phố ảnh 1

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến.

Lạ là, cái gì Nguyễn Ngọc Tiến viết cũng đều khiến người đọc thú vị. Rõ ràng toàn những điều ngỡ như cứ gặp nó ở đâu đó rồi; nhưng vẫn không khỏi ngạc nhiên bởi sự thâm hậu, cái duyên của người kể chuyện, đặc biệt là những thông tin dày, đậm, tươi mới, từ: “Đĩ điếm ở Hà Nội”, “Tư sản ở Hà Nội” (hai đề tài rất nhạy cảm), “Cô đầu ở Khâm Thiên”, “Xẩm Bờ Hồ”, đến xe đạp, ô tô đầu thế kỷ 20 ở Hà Nội, đĩa than có từ bao giờ, thú chơi đĩa than ở Hà Nội như thế nào... Qua những câu chuyện đời thường đó ánh lên thân phận của cá nhân và đô thị Hà Nội, trong các bối cảnh khác nhau.

Nhưng Nguyễn Ngọc Tiến không dừng lại ở đấy. Với anh Hà Nội vẫn còn nhiều câu chuyện khác mà không thể không viết. Vì thế, dù bận rộn với công việc viết báo, anh vẫn bắt tay vào viết “Đi quanh Hà Nội”. Với anh, Hà Nội vẫn còn những “chiều” khác nữa, chẳng hạn như: Tìm lại xuất xứ câu thành ngữ “Trai Ngõ Trạm, gái Tạm Thương”, “Gái Hàng Khoai, Trai Hàng Lược”; đi tìm người Hà Nội gốc; nét thanh lịch Hà Nội có còn không; hay chuyện Hà Nội từng cấm ăn thịt chó... “Ở Trung tâm lưu trữ Quốc gia, tôi tìm được cả những tư liệu của người Pháp quy định rất rõ cấm ăn thịt chó vào cuối thế kỷ 19 ở Hà Nội. Người Pháp không ăn thịt chó, vì vậy khi An Nam là thuộc địa, cũng phải thực hiện nghiêm ngặt quy định này”, anh Tiến chia sẻ.

Có vẻ, anh là người tham lam, bởi đang viết dở dang “Đi quanh Hà Nội”, bỗng gặp đề tài cuốn hút hơn, thế là lập tức dừng lại, viết cuốn kia trước, tất nhiên cuốn này cũng là viết về Hà Nội. Chỉ có điều chuyển hẳn sang một thể tài khác, đó là tiểu thuyết tư liệu “Me Tư Hồng”, dự kiến cuối tháng 9 này sẽ cho ra mắt bạn đọc. Cuốn “Đi quanh Hà Nội” đành lùi lại in vào dịp cuối năm.

Dựa trên những tư liệu lịch sử có thật vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tiến nhắc đến một nhân vật mà có lẽ nhiều người biết - cô Tư Hồng, người bị mang tiếng là “phá thành Hà Nội”. Đó là một người đàn bà có ý chí, có nghị lực, dám mở công ty đầu tiên ở Bắc Kỳ cuối thế kỷ 19. Công ty thầu khoán của bà đã cạnh tranh với các nhà thầu Hoa Kiều, người Pháp, giành được quyền phá tường thành Hà Nội, trúng thầu cung cấp cơm cho các nhà tù, làm cả vận tải biển pha sông... trở thành người giàu có bằng trí tuệ và bản lĩnh, sự khôn khéo. Giầu có lại thương người, cô Tư Hồng đã làm từ thiện giúp người nghèo ở Hà Nội và các tỉnh lân cận.

Yêu phố nhỏ thâm trầm cổ kính

Như thế, nhìn vào những gì Nguyễn Ngọc Tiến đang làm, đang viết về Hà Nội, thì cứ cảm giác, nguồn cảm hứng của anh là vô tận. Anh yêu Hà Nội, mảnh đất mình sinh ra, lớn lên bằng tình yêu tự thân, nhớ Hà Nội từ thời mình còn để chỏm, như những nét ký ức không gì có thể phai mờ.

“Hà Nội trong tâm trí tôi và những người cùng trang lứa là cái gì rất êm đềm và mọi thứ đều nhẹ nhõm. Những năm 60, 70 Hà Nội thật đẹp, dân cư thưa thớt, cây xanh, biệt thự, nhà cửa gần như còn nguyên vẹn, với vóc dáng xinh xắn, diện mạo vừa mới vừa cũ, rất thú vị”, anh nói.

Giống như nhiều người trải qua những năm tháng khó khăn của đất nước, Nguyễn Ngọc Tiến chưa khi nào quên Hà Nội những năm 70, đầu năm 80 của thế kỷ trước. Lúc đó, Hà Nội vô cùng thiếu điện thiếu nước, cuộc sống của người dân thực sự vất vả. Có những gia đình muốn lấy được nước sinh hoạt phải xếp hàng từ 3 - 4 giờ sáng. Điện vào mùa hè không đủ để chạy một cái quạt con. Lương thực, thực phẩm còn bao cấp. Thú ăn, thú chơi cũng rất đơn giản, cảm giác là người dân cũng thiếu tự tin.

Theo thời gian, đặc biệt từ khi đổi mới, Hà Nội có sự thay đổi lớn. Trong những thập niên cuối cùng của thế kỷ 20, các công trình bắt đầu mọc lên khá nhiều, những tòa nhà từ vốn đầu tư nước ngoài xuất hiện. Người ta cũng nhìn thấy khu đô thị mới xuất hiện ở Linh Đàm, mới lạ so với người dân thành phố quen sống trong khu chung cư cũ chỉ 30 - 40 mét vuông...

“Tuy nhiên, có một điều tôi thấy rõ nhất trong sự đổi thay của Thủ đô trong 60 năm qua là cuộc sống của người dân ngoài đê sông Hồng”, Nguyễn Ngọc Tiến nói. Trước 1954, khu vực ngoài bãi sông Hồng bắt đầu từ Phú Thượng đến Lĩnh Nam, chỉ là bãi bồi với những túp lều lụp xụp. Đặc biệt, khu Phúc Xá, Phúc Tân - nơi tập trung dân tứ chiếng dồn về, cuộc sống vô cùng thiếu thốn, khổ sở. Họ là những người lao động chân tay, đổi mồ hôi lấy bát cơm, khi chết không có chỗ chôn, phải vùi xác dưới bãi cát. Người dân không làm được chứng minh thư, trẻ nhỏ không có giấy khai sinh... Sau 1954, cuộc sống của họ đã thay đổi và cho đến ngày nay thì thay đổi đến đáng kinh ngạc. Không còn cảnh bụi bậm, lầm than, phía ngoài đê như một thành phố ven sông, đóng góp cho sự phát triển của xã hội và Thủ đô.

“Nhưng Hà Nội cũng đang mất dần đi nét đẹp của người Tràng An, khoáng đạt, hào hoa, thanh lịch. Khi đô thị phát triển quá nhanh, tình trạng quản lý đô thị yếu kém đã làm cho thành phố nhếch nhác, lộn xộn, mất đi vẻ hiện đại, văn minh”, Nguyễn Ngọc Tiến trầm tư hết câu chuyện.

Xuân Phong