Nghị định này không điều chỉnh: Thủ tục hành chính để giải quyết công việc nội bộ trong một cơ quan hành chính nhà nước và do cơ quan đó quy định; thủ tục xử lý vi phạm hành chính; trình tự, thủ tục tiến hành hoạt động thanh tra, kiểm tra; thủ tục hành chính có nội dung bí mật nhà nước.
Nghị định này áp dụng đối với cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương, người có thẩm quyền, cơ quan trung ương được tổ chức theo hệ thống ngành dọc đóng tại địa phương, chính quyền địa phương, cá nhân, tổ chức trong hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính.
Nguyên tắc kiểm soát thủ tục hành chính
Kiểm soát thủ tục hành chính phải bảo đảm thực hiện có hiệu quả mục tiêu cải cách thủ tục hành chính, cải cách hành chính; bảo đảm sự tham gia của cá nhân, tổ chức và các bên có liên quan trong quá trình xây dựng, thực hiện và đánh giá thủ tục hành chính; kịp thời phát hiện để bãi bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung thủ tục hành chính không phù hợp, phức tạp, phiền hà; bảo đảm các thủ tục hành chính được ban hành đúng quy định, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức của đối tượng thực hiện và cơ quan thực hiện thủ tục hành chính.
Đồng thời, kiểm soát thủ tục hành chính được thực hiện ngay từ khi đề xuất chính sách, soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật và được tiến hành thường xuyên, liên tục trong quá trình tổ chức thực hiện thủ tục hành chính; kiểm soát thủ tục hành chính phải gắn với chuyển đổi số và quản trị dữ liệu, bảo đảm khai thác, kết nối, chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu trong toàn bộ quá trình giải quyết thủ tục hành chính.
Cơ quan, đơn vị kiểm soát thủ tục hành chính
Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác kiểm soát thủ tục hành chính. Cục Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Bộ Tư pháp có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về công tác kiểm soát thủ tục hành chính.
Tổ chức pháp chế hoặc Văn phòng của bộ, cơ quan ngang bộ có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ thực hiện quản lý nhà nước về công tác kiểm soát thủ tục hành chính trong phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý. Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố (sau đây gọi là cấp tỉnh) có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính tại địa phương.
Trung tâm Phục vụ hành chính công thuộc Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu (sau đây gọi là cấp xã) có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính tại địa bàn xã. Trường hợp địa phương tổ chức theo mô hình Trung tâm Phục vụ hành chính công một cấp thì Văn phòng Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân có chức năng tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính tại địa bàn xã.
Yêu cầu của việc quy định thủ tục hành chính
Thủ tục hành chính theo quy định của Nghị định này phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định của pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật và phải đáp ứng các quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này.
Việc quy định một thủ tục hành chính phải bảo đảm đầy đủ các bộ phận cấu thành cơ bản sau đây:
a) Tên thủ tục hành chính;
b) Trình tự thực hiện;
c) Cách thức thực hiện;
d) Thành phần, số lượng hồ sơ;
đ) Thời hạn giải quyết;
e) Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính;
g) Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính;
h) Trường hợp thủ tục hành chính phải có mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính; kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu, điều kiện; phí, lệ phí thì mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính; kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu, điều kiện; phí, lệ phí là bộ phận cấu thành của thủ tục hành chính.
Trường hợp không quy định đầy đủ, cụ thể các bộ phận cấu thành thủ tục hành chính trong một văn bản thì phải giao cơ quan, người có thẩm quyền quy định để bảo đảm đầy đủ, cụ thể các bộ phận cấu thành của thủ tục hành chính và bảo đảm có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản giao quy định thủ tục hành chính hoặc thời điểm có hiệu lực của quy định thủ tục hành chính.
Quy định thủ tục hành chính phải bảo đảm quyền lựa chọn cách thức thực hiện của cá nhân, tổ chức, trong đó, ưu tiên thực hiện được trên môi trường điện tử, thực hiện không phụ thuộc vào địa giới hành chính.
Nguyên tắc thực hiện thủ tục hành chính
1. Bảo đảm công khai, minh bạch các thủ tục hành chính đang được thực hiện.
2. Bảo đảm khách quan, công bằng trong thực hiện thủ tục hành chính.
3. Bảo đảm tính liên thông, kịp thời, chính xác, không gây phiền hà trong thực hiện thủ tục hành chính.
4. Cá nhân, tổ chức có quyền từ chối thực hiện thủ tục hành chính không đúng quy định pháp luật hoặc không đúng nội dung đã được cơ quan có thẩm quyền công bố, công khai thủ tục hành chính theo quy định.
5. Bảo đảm nguyên tắc cung cấp thông tin một lần, liên thông điện tử, ưu tiên sử dụng dữ liệu và dịch vụ số.
6. Đề cao vai trò, trách nhiệm của cán bộ, công chức trong giải quyết công việc cho cá nhân, tổ chức.
7. Kết quả giải quyết thủ tục hành chính được cung cấp bằng hình thức điện tử, trường hợp cá nhân, tổ chức có yêu cầu hoặc pháp luật có quy định thì trả bằng bản giấy.
8. Bảo đảm quyền được phản ánh, kiến nghị của các cá nhân, tổ chức và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trong thực hiện thủ tục hành chính.
Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh định kỳ hằng tháng, quý, 6 tháng, năm báo cáo Bộ Tư pháp về tình hình và kết quả thực hiện hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính của bộ, ngành, địa phương hoặc báo cáo đột xuất theo yêu cầu.
Bộ Tư pháp có trách nhiệm tổng hợp báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về tình hình, kết quả thực hiện hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo định kỳ hoặc báo cáo đột xuất khi có yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Công tác báo cáo thực hiện theo chế độ báo cáo điện tử, thông qua chức năng của Nền tảng số về kiểm soát thủ tục hành chính. Chế độ báo cáo thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này. Bộ Tư pháp có trách nhiệm hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Nghị định này.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 10/10/2026.