Nhấn mạnh chính sách phải đến được với khu vực tạo ra giá trị gia tăng là doanh nghiệp chế biến, chế tạo và phải "chạm được tới cả nơi khó khăn nhất", đại biểu Lê Hoàng Anh (Gia Lai) khẳng định, doanh nghiệp chế biến, chế tạo cần có công cụ, không chỉ là đối tượng hưởng lợi. Nêu các số liệu dẫn chứng, đại biểu cho rằng, doanh nghiệp chế biến nhỏ thiếu đúng những thứ dự thảo Luật đang để trống, đó là: đất gắn với vùng nguyên liệu, kho lạnh, vốn dài hạn mua máy móc, chi phí chứng nhận truy xuất nguồn gốc theo yêu cầu chống phá rừng của thị trường châu Âu...
Theo đại biểu Lê Hoàng Anh, báo cáo liên quan đánh giá doanh nghiệp chế biến, chế tạo đều là đối tượng hưởng lợi chủ yếu qua Điều 22 của dự thảo Luật, tuy nhiên các quy định tại Điều 22 mới chỉ đề cập đến nội dung hỗ trợ tư vấn, chứng nhận, còn vấn đề về đất, vốn dài hạn và tài sản bảo đảm thì chưa có công cụ. Đại biểu khẳng định đề nghị của mình không nhằm ưu ái một ngành, mà để sửa một thiên lệch: cho vay dựa vào tài sản thế chấp tưởng như trung tính lại bất lợi nhất cho doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ đầu tư dài hạn, tài sản chuyên dùng khó thế chấp. Đó cũng chính là yêu cầu ưu tiên tín dụng cho đầu tư máy móc, chuỗi cung ứng được nêu tại Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
Đại biểu Lê Hoàng Anh đề xuất, nếu chưa thiết kế điều riêng về những vấn đề này, cần bổ sung tối thiểu ba nội dung: Thứ nhất, tại Điều 10, khôi phục quy định bố trí quỹ đất khu, cụm chế biến nông, lâm, thủy sản tập trung gắn với vùng nguyên liệu, kho lạnh, logistics dùng chung (Quy định đã có trong Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, không phải chính sách mới). Thứ hai, tại Điều 22, nội dung về cho vay trên cơ sở hợp đồng liên kết tiêu thụ, khoản phải thu, hàng tồn kho, chứng từ kho hàng..., cần ưu tiên bảo lãnh khoản vay mua máy móc chế biến sâu. Thứ ba, hợp tác xã đáp ứng tiêu chí quy mô được áp dụng chính sách như doanh nghiệp.
Ghi nhận nhiều điểm mới của dự thảo Luật lần này, đại biểu Dương Khắc Mai (Lâm Đồng) tham gia đóng góp ý kiến đối với tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa được quy định tại Điều 4 của dự thảo. Đại biểu tỉnh Lâm Đồng cho biết, khoản 1 Điều 4 của dự thảo quy định đây là doanh nghiệp có số lao động bình quân năm trước liền kề không quá 300 người và đáp ứng 1 trong 2 ngưỡng về nguồn vốn không quá 150 tỷ đồng hoặc doanh thu không quá 400 tỷ đồng. Đại biểu tán thành với định hướng nêu trong Báo cáo tiếp thu giải trình khi đã đề cập khá đầy đủ về cơ sở lựa chọn ngưỡng, cho biết tỷ lệ doanh nghiệp thuộc diện nhỏ và vừa dự kiến tăng từ 97,4 % lên khoảng 98,4%, đồng thời bảo lưu cách sử dụng số liệu năm trước liền kề để thuận tiện kiểm chứng.
Tuy nhiên, theo đại biểu Dương Khắc Mai, tại khoản 1 của điều này chưa thể hiện rõ cách xác định đối với doanh nghiệp mới thành lập chưa có số liệu năm trước liền kề, doanh nghiệp hoạt động đa ngành và trường hợp doanh nghiệp vượt ngưỡng trong khi đang thực hiện chương trình hỗ trợ đã được phê duyệt. Đây là vấn đề về tính liên tục của chính sách, khác với việc đề nghị lấy số liệu bình quân nhiều năm mà Bộ Tài chính đã giải trình.
Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung tại khoản 3 Điều 4 nội dung: giao Chính phủ quy định cụ thể phương thức xác định quy mô đối với các trường hợp nêu trên, trên nguyên tắc sử dụng dữ liệu sẵn có của cơ quan nhà nước và việc xử lý cam kết hỗ trợ hợp pháp đang thực hiện khi doanh nghiệp tăng trưởng vượt ngưỡng, đồng thời không để việc doanh nghiệp phát triển trở thành lý do đột ngột chấm dứt hỗ trợ đã cam kết.
Cho rằng hỗ trợ pháp lý là chính sách rất thiết thực, bởi phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa không có bộ phận pháp chế riêng, nhiều rủi ro từ hợp đồng, thuế, lao động, đất đai... có thể trở thành thiệt hại lớn nếu không được nhận diện sớm, đại biểu Lê Đào An Xuân (Đắk Lắk) đánh giá cao dự thảo Luật đã điều chỉnh định hướng hỗ trợ pháp lý từ cung cấp thông tin sang phòng ngừa và tuân thủ.
Tuy nhiên, theo đại biểu tỉnh Đắk Lắk, cần phân định rõ các chính sách tư vấn và hỗ trợ pháp lý chuyên sâu. Tại khoản 1 Điều 14 có nội dung tư vấn, cố vấn, huấn luyện về pháp lý, trong khi Điều 15 cũng quy định về hỗ trợ tương tự. Các Điều 17, 20, 21 và 22 còn đề cập tới hỗ trợ pháp lý chuyên sâu cho một số nhóm doanh nghiệp, nhưng chưa làm rõ phạm vi và mối quan hệ với chính sách chung.
"Nếu không phân định, khi triển khai dễ chồng chéo chương trình, doanh nghiệp khó tiếp cận, cơ quan thực hiện cũng khó xác định trách nhiệm và thanh toán kinh phí", đại biểu nêu rõ.
Đề nghị phân biệt hoạt động nâng cao năng lực quản trị, tuân thủ pháp luật với dịch vụ tư vấn pháp luật cho nhu cầu cụ thể, theo đại biểu Lê Đào An Xuân, tại Điều 14 nên tập trung quy định vào tư vấn quản trị, phát triển kinh doanh. Điều 15 là căn cứ chung cho các hoạt động hỗ trợ pháp lý. Các điều quy định chính sách trọng tâm chỉ xác định nhu cầu, nhóm ưu tiên và dẫn chiếu tới Điều 15.
Bên cạnh đó, đại biểu nhấn mạnh cần làm rõ khái niệm hỗ trợ pháp lý chuyên sâu, quy định rõ trường hợp được hỗ trợ chuyên sâu và nguyên tắc không hỗ trợ trùng một nội dung, một khoản chi; quy định rõ về phạm vi và cơ chế hỗ trợ chi phí tư vấn pháp luật. Đại biểu cũng đề xuất cần đơn giản hóa thủ tục để nhận hỗ trợ và bảo đảm tính bảo mật của doanh nghiệp; bổ sung nguyên tắc thủ tục hỗ trợ đơn giản hơn, ưu tiên trực tuyến, sử dụng phiếu hỗ trợ, phân cấp quyết định phù hợp quy mô kinh phí và bổ sung nguyên tắc bảo mật, độc lập tư vấn.
Tại phiên thảo luận, các đại biểu đã cho ý kiến đối với dự thảo Luật về các vấn đề như: Việc chia sẻ, kết nối, xác thực dữ liệu và việc rà soát, sáp nhập và giải thể quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và quỹ bảo lãnh tín dụng; chính sách thuế, kế toán, mặt bằng sản xuất và ưu tiên mua sắm sử dụng ngân sách nhà nước; hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái doanh nghiệp kinh doanh bền vững và tham gia chuỗi giá trị; chính sách đối với doanh nghiệp do phụ nữ, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số làm chủ và doanh nghiệp ở địa bàn khó khăn; phát triển doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh...