Gần 950 tỷ đồng nợ thuế khó thu ở Đồng Nai

Theo Cục Thuế Đồng Nai, đến hết tháng 6/2019, trên địa bàn tỉnh còn hàng nghìn doanh nghiệp nợ thuế với số tiền gần 2.370 tỷ đồng; trong đó, số nợ có khả năng thu hơn 1.400 tỷ đồng và còn gần 950 tỷ đồng là nợ khó thu. So với cuối năm 2018, nợ thuế khó thu tăng thêm khoảng 55 tỷ đồng.

Ông Nguyễn Tấn Lợi, Phó cục Trưởng Cục Thuế Đồng Nai cho biết, thực chất, nợ thuế khó thu ở Đồng Nai chỉ hơn 530 tỷ đồng (nợ gốc). Con số 950 tỷ là do cộng thêm tiền phạt chậm nộp bởi thời gian nợ thuế càng lâu, tiền phạt chậm nộp càng tăng. Nợ thuế khó thu đa số thuộc về doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước, hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ. Những doanh nghiệp này thường có rất ít máy móc, trang thiết bị; nếu có thì cũng là máy cũ, giá trị thấp, không có tài sản cố định (đất).

Nhiều doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài, chủ bỏ trốn khi còn nợ thuế nhưng ngành thuế vẫn thu hồi được nợ vì họ còn để lại tài sản cố định, hàng hóa, máy móc. Còn với doanh nghiệp thương mại, dịch vụ trong nước, do không có tài sản để lại nên việc thu hồi nợ gần như không thể. Hiện ngành thuế Đồng Nai đã vô hiệu hóa hóa đơn những doanh nghiệp nợ thuế khó thu, doanh nghiệp không thể tiếp tục hoạt động - ông Lợi cho hay.

Nợ thuế khó thu là vấn đề khó xử lý, bởi doanh nghiệp không có khả năng chi trả. Theo quy định, nợ thuế chỉ được xóa khi có thời gian trên 10 năm; trong khi đó, số nợ nêu trên đều dưới 10 năm. Nhằm giảm áp lực quản lý nợ, Cục Thuế Đồng Nai đã kiến nghị cơ quan Trung ương khoanh khoản nợ này lại, không tính tiền phạt chậm nộp để số nợ không tăng.

Nhằm hạn chế phát sinh nợ thuế khó thu, thời gian tới, Cục Thuế Đồng Nai sẽ tăng cường kiểm tra, đốc thúc doanh nghiệp nộp thuế đúng hạn; thường xuyên rà soát, nếu doanh nghiệp nợ thuế trên 90 ngày thì lập tức cưỡng chế tài khoản, hóa đơn; công khai danh sách doanh nghiệp nợ thuế với số tiền lớn, thời gian dài lên các phương tiện thông tin đại chúng.

Công Phong (TTXVN)

Dành cho bạn

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài cuối: Những tuyến đường đến các cực tăng trưởng mới

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài cuối: Những tuyến đường đến các cực tăng trưởng mới

Cao tốc, sân bay và cảng biển tạo lợi thế tiếp cận, nhưng dòng vốn chỉ ở lại nơi có đất sạch, điện, nước, nhân lực, môi trường và thủ tục đủ tin cậy. Từ Vân Phong, Nhơn Hội, Buôn Ma Thuột đến Liên Chiểu và các đô thị dọc cao tốc Lâm Đồng, miền Trung - Tây Nguyên đang hình thành nhiều điểm hội tụ mới. Thách thức là biến các dự án riêng lẻ thành hệ sinh thái và phân chia lợi ích liên vùng.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Hạ tầng có thể rút ngắn một chuyến xe, nhưng chưa chắc nâng giá trị một tấn nông sản. Giá trị chỉ tăng khi vùng nguyên liệu được số hóa, sản phẩm được bảo quản, chế biến, kiểm định và bán bằng thương hiệu của mình. Từ cà phê, sầu riêng ở Đắk Lắk, rau hoa và trái cây Lâm Đồng đến dữ liệu di sản Huế, chuỗi giá trị mới đang đòi hỏi hạ tầng rộng hơn đường sá: hạ tầng số, tiêu chuẩn và năng lực sáng tạo.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Miền Trung có chuỗi cảng nước sâu trải dọc bờ biển, còn phía Tây là vùng sản xuất rộng lớn nối sang Lào và Campuchia nhưng một cầu cảng lớn không mặc nhiên có nguồn hàng, cũng như một tuyến cao tốc chưa chắc tạo nên hành lang kinh tế. Cuộc cạnh tranh mới nằm ở năng lực tổ chức hậu phương cảng, vận tải đa phương thức và hệ sinh thái dịch vụ giữ hàng hóa ở lại lâu hơn.