Đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển TP Hồ Chí Minh - Bài 1: Tài nguyên văn hóa từ di sản đô thị

Trong quá trình phát triển đô thị, văn hóa không chỉ góp phần tạo dựng bản sắc mà còn có khả năng trở thành nguồn lực kinh tế và động lực sáng tạo. Tuy nhiên, để chuyển hóa di sản, không gian văn hóa và các hoạt động nghệ thuật, thể thao thành nguồn lực phát triển, TP Hồ Chí Minh cần giải quyết đồng thời những vấn đề về quy hoạch, thể chế, cơ chế huy động nguồn lực và tổ chức thực hiện.

Bài 1: Tài nguyên văn hóa từ di sản đô thị

Di sản đô thị TP Hồ Chí Minh không chỉ nằm trong những công trình kiến trúc hay địa điểm đã được xếp hạng, mà còn hiện diện trong hệ thống bến cảng, nhà xưởng, chợ, kênh rạch và đời sống cộng đồng. Nhận diện đầy đủ những giá trị này, đưa di sản vào quy hoạch và có cơ chế bảo tồn phù hợp là điều kiện để văn hóa trở thành một nguồn lực phát triển đô thị bền vững.

Nhìn di sản từ cấu trúc và ký ức đô thị

Với lịch sử hình thành và phát triển hơn 300 năm, TP Hồ Chí Minh sở hữu một hệ thống di sản đa dạng, phản ánh quá trình giao lưu văn hóa, phát triển kinh tế và biến đổi không gian đô thị. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn nhận di sản qua những công trình kiến trúc tiêu biểu hoặc các địa điểm đã được xếp hạng, nhiều giá trị gắn với lịch sử hình thành đô thị có nguy cơ chưa được nhận diện đầy đủ.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử TP Hồ Chí Minh, di sản đô thị cần được nhìn nhận trong một cấu trúc rộng hơn, bao gồm cả tuyến phố, bến cảng, kho xưởng, chợ, kênh rạch và những cộng đồng cư dân gắn bó với không gian đó. Đây không phải những thành tố tách rời mà cùng tạo nên cảnh quan, ký ức và bản sắc của đô thị.

baotintuc_tr_img-3743.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử TP Hồ Chí Minh, chia sẻ về di sản đô thị.

Từ cách tiếp cận này, việc bảo tồn cần vượt ra khỏi phạm vi từng công trình riêng lẻ, hướng đến nhận diện các khu vực và không gian có giá trị lịch sử, kiến trúc, văn hóa và xã hội. Cách tiếp cận cảnh quan đô thị lịch sử của UNESCO có thể là cơ sở tham khảo để TP Hồ Chí Minh xem xét mối quan hệ giữa di sản với quá trình phát triển đô thị hiện đại.

Có thể nhận diện ba nhóm không gian có giá trị cần được nghiên cứu, gồm các trục kiến trúc lịch sử, công trình công cộng gắn với quá trình hình thành Sài Gòn - Chợ Lớn; hệ thống di sản công nghiệp, cảng thị như khu vực Bến Nghé, Bình Đông, Ba Son và các hành lang sông Sài Gòn, kênh rạch, bến nước, gắn với không gian Cần Giờ, Củ Chi. Việc nhận diện các nhóm không gian này giúp mở rộng cách nhìn về di sản, đồng thời tạo cơ sở để tích hợp các giá trị văn hóa vào quy hoạch đô thị.

Tuy nhiên, không phải nhà máy, kho xưởng hay công trình cũ nào cũng mặc nhiên trở thành di sản. Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu, quá trình kiểm kê cần đi kèm việc lập bản đồ, hồ sơ và phân loại, đánh giá cụ thể giá trị lịch sử, kỹ thuật, xã hội, hiện trạng kết cấu, quyền sở hữu và chi phí phục hồi. Đây là cơ sở để xác định công trình nào cần bảo tồn, công trình nào có thể chuyển đổi công năng và phương án khai thác phù hợp.

PGS.TS Lâm Nhân, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa TP Hồ Chí Minh, nhìn nhận văn hóa là bộ phận cấu thành đô thị, tạo nên bản sắc và “cái hồn” của một thành phố. Với TP Hồ Chí Minh, những giá trị nổi bật không chỉ nằm ở di sản lịch sử, kiến trúc mà còn ở không gian sông nước, hệ sinh thái và đời sống cộng đồng Nam Bộ. Vì vậy, phát triển đô thị cần quan tâm đồng thời đến các lớp giá trị này, thay vì chỉ tập trung vào hạ tầng xây dựng và tăng trưởng kinh tế.

baotintuc_tr_img-3649.jpg
Tiết mục múa truyền thống của các em học sinh, sinh viên trong cuộc thi múa toàn quốc đang diễn ra tại Trường Đại học Văn hóa TP Hồ Chí Minh.

Một vấn đề khác là di sản văn hóa phi vật thể đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải kiểm kê, tư liệu hóa và có phương án bảo vệ. Nhiều nghệ nhân lớn tuổi, trong khi tri thức, kỹ năng và thực hành văn hóa được lưu giữ qua nhiều thế hệ có nguy cơ mai một nếu không được ghi nhận và trao truyền kịp thời. Việc bảo tồn vì thế không chỉ là lưu giữ hiện vật hay phục dựng không gian, mà còn phải duy trì điều kiện để cộng đồng tiếp tục thực hành văn hóa.

Từ góc độ này, cộng đồng cư dân không thể chỉ được xem là đối tượng thụ hưởng các chương trình bảo tồn. Họ là chủ thể sáng tạo, lưu giữ ký ức và có quyền tham gia vào quá trình xác định giá trị, lựa chọn phương án bảo tồn, khai thác di sản. Đây cũng là yếu tố quan trọng để bảo đảm tính xác thực và sự tiếp nối của di sản trong đời sống đương đại.

Hài hòa bảo tồn với yêu cầu phát triển đô thị

Khi đô thị mở rộng và nhu cầu sử dụng đất ngày càng lớn, di sản thường đứng trước sức ép chuyển đổi công năng, chỉnh trang hoặc nhường chỗ cho các dự án phát triển mới. Nếu thiếu cơ chế đánh giá và điều phối phù hợp, những giá trị văn hóa gắn với lịch sử hình thành đô thị có thể bị mất đi trước khi được nhận diện đầy đủ.

Theo ông Lê Văn Thái, Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao TP Hồ Chí Minh, với quy mô dân số hơn 14 triệu người, hệ thống hạ tầng và thiết chế văn hóa, thể thao của Thành phố vẫn chưa tương xứng với nhu cầu. Trong khi đó, quy hoạch đô thị chưa kết nối đầy đủ với quy hoạch và hệ sinh thái văn hóa, thể thao. Điều này đặt ra yêu cầu phải xem văn hóa là một thành tố ngay từ quá trình hoạch định không gian phát triển, thay vì chỉ bổ sung các công trình văn hóa sau khi đô thị đã hình thành.

baotintuc_tr_img-3742.jpg
Ông Lê Văn Thái, Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao TP Hồ Chí Minh, chia sẻ về những thiết chế văn hóa, thể thao của Thành phố.

Việc tích hợp di sản vào quy hoạch cần gắn với những cơ chế cụ thể, từ kiểm kê, phân loại, xác định vùng bảo vệ đến phương án sử dụng và quản lý không gian. Với những công trình có giá trị nhưng không còn phù hợp với công năng ban đầu, chuyển đổi mục đích sử dụng có thể là một hướng đi, song cần bảo đảm không làm mất đi những yếu tố cấu thành giá trị di sản.

Một trong những yêu cầu quan trọng là xây dựng cơ chế tài chính phù hợp cho bảo tồn. Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu, cần nghiên cứu cơ chế tài chính hỗn hợp, kết hợp nguồn lực ngân sách với sự tham gia của khu vực tư nhân, đồng thời có cơ chế tái đầu tư nguồn thu từ khai thác vào công tác bảo tồn. Cách tiếp cận này vừa tạo thêm nguồn lực duy trì di sản, vừa gắn trách nhiệm của các chủ thể tham gia khai thác với việc gìn giữ những giá trị văn hóa. Bên cạnh đó, công tác quản lý cần có sự phối hợp liên ngành, bởi các vấn đề về quy hoạch, xây dựng, đất đai, văn hóa, môi trường và du lịch thường đan xen.

Tuy nhiên, huy động nguồn lực xã hội không đồng nghĩa với thương mại hóa mọi giá trị văn hóa. PGS.TS Lâm Nhân cho rằng không phải di sản nào cũng có thể khai thác theo hướng thương mại; việc phát huy giá trị cần tôn trọng cộng đồng chủ thể và tính xác thực của di sản. Nếu chỉ chú trọng khả năng tạo doanh thu, di sản có thể bị biến thành sản phẩm dịch vụ đơn thuần, làm suy giảm chính những giá trị khiến nó trở nên có ý nghĩa đối với đô thị.

Cùng với cơ chế tài chính, việc xây dựng hệ thống dữ liệu và số hóa di sản cũng là yêu cầu cần được quan tâm. Tiến sĩ Chu Tiến Đạt, Chủ tịch Hội đồng thành viên VTC Digicom, Tổng Công ty VTC, chỉ ra thực trạng dữ liệu di sản còn phân tán, hệ thống vé tại nhiều điểm tham quan, thiết chế văn hóa chưa liên thông. Từ đó, ông đề xuất xây dựng kho di sản số thuộc cơ sở dữ liệu dùng chung, có khả năng liên thông với Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia; đồng thời thí điểm trong giai đoạn 2026 - 2027 tại một số bảo tàng thuộc Sở Văn hóa và Thể thao và các di tích quốc gia đặc biệt.

Việc số hóa không chỉ phục vụ lưu trữ, quản lý mà còn tạo cơ sở để kết nối thông tin, hỗ trợ nghiên cứu, quảng bá và phát triển các sản phẩm khai thác giá trị di sản. Khi dữ liệu được chuẩn hóa và chia sẻ, các cơ quan quản lý cũng có thêm công cụ để theo dõi hiện trạng, cập nhật thông tin và phối hợp trong quá trình bảo tồn, phát huy giá trị.

Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, có hiệu lực từ ngày 1/10/2026, tạo thêm cơ sở pháp lý để đặt vấn đề văn hóa, di sản trong tổng thể phát triển đô thị. Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách phụ thuộc vào việc cụ thể hóa các quy định thành quy hoạch, cơ chế quản lý và nguồn lực thực hiện ở từng địa phương.

Với TP Hồ Chí Minh, yêu cầu đặt ra không chỉ là bảo vệ những công trình đã được công nhận, mà còn phải nhận diện những lớp di sản đang hiện diện trong đời sống đô thị, từ không gian kiến trúc, cảnh quan sông nước đến ký ức cộng đồng. Khi được kiểm kê, bảo tồn và khai thác trên cơ sở tôn trọng giá trị gốc, di sản không chỉ là dấu tích của quá khứ mà còn có thể đóng góp trực tiếp vào chất lượng sống, sức hấp dẫn và bản sắc của đô thị hiện đại.

Bài cuối: Gỡ điểm nghẽn để hình thành hệ sinh thái

Hương Trần/Báo Tin tức và Dân tộc

Dành cho bạn

Làm mới sách để nuôi dưỡng thế hệ bạn đọc trẻ

Làm mới sách để nuôi dưỡng thế hệ bạn đọc trẻ

Từ dịch mới, đầu tư mỹ thuật đến phát triển sách số, các đơn vị xuất bản đang đưa những trang sách quen thuộc đến gần người trẻ. Để sự quan tâm ấy thành thói quen đọc, đổi mới cần đi cùng chất lượng nội dung, giá sách hợp lý và môi trường đọc theo định hướng Nghị quyết 80-NQ/TW.

Đẩy mạnh phong trào đọc sách trong cộng đồng

Đẩy mạnh phong trào đọc sách trong cộng đồng

Những năm qua, phong trào đọc sách trong dân ở tỉnh Khánh Hòa ngày một được nâng cao. Nhiều chương trình, cuộc thi ra đời góp phần tạo sân chơi bổ ích, cũng như lan tỏa tình yêu với sách, báo trong cộng đồng.

'Dấu ấn phù sa' đưa sắc màu Nam Bộ đến với Australia

'Dấu ấn phù sa' đưa sắc màu Nam Bộ đến với Australia

Những câu hò, điệu lý, tiếng đàn tranh, đàn bầu cùng sắc màu áo dài và những điệu múa dân gian Nam Bộ đã hòa quyện trên sân khấu Sydney (Australia) tối 17/10 trong chương trình nghệ thuật “VietSoul 3: Dấu ấn phù sa” do Tổ chức Giao lưu Văn hóa Việt Nam - Australia (VACEO) tổ chức.

Đưa di sản vào dòng chảy sáng tạo mới

Đưa di sản vào dòng chảy sáng tạo mới

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định văn hóa và con người là nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực lớn của phát triển nhanh, bền vững.