Y Tý là một xã vùng cao của huyện Bát Xát (Lào Cai). Nằm ở độ cao trên 2.000 m, lưng tựa vào dãy núi Nhù Cù San có đỉnh cao tới 2.660 m. Nơi đây, gần như quanh năm mây mù bao phủ, rất hiếm khi thấy được ánh nắng mặt trời soi đủ cả ngày. Các bản xa như Phìn Hồ, Nhìu Cồ San, Hồng Ngài nằm xa tít trên đỉnh trời quanh năm mờ sương. Đứng ở bản xa và cao nhất, có thể nhìn thấy nước bạn Trung Quốc và huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Đường lên Y Tý tựa như đường lên trời vậy bởi con đường lộm cộm đất và đá sắc lẹm như lưỡi cuốc. Ở nơi bốn mùa mờ sương này, chuyện học chữ của bọn trẻ thật nhọc nhằn.
Thảo quả - cây xóa đói giảm nghèo
Y Tý là xã vùng cao còn nhiều khó khăn của huyện Bát Xát, nơi định cư của đồng bào Hà Nhì, đồng bào Dao và Kinh, trong đó, người Hà Nhì chiếm tới trên 50% số dân. Xã có 15 bản với những cái tên nghe mà thấy xa xôi: Phìn Hồ, Nhìu Cồ San, Mò Phú Chải, Hồng Ngài… Từ lâu, người dân Y Tý bám mảnh đất đầy sương này để mưu sinh. Khó khăn không phải người Hà Nhì, người Dao ở đây lười lao động mà đường lên Y Tý khó khăn, hàng hóa vận chuyển lên và chuyển xuống núi chủ yếu bằng ngựa, thời tiết khắc nghiệt khiến cho cây trồng khó lòng mà lên xanh tốt được. “Cuộc sống nghèo khó lắm”, đó là câu nói của những người đã từng sống nơi đỉnh trời này. Chỉ có đá, sương mù, đến cây sa mu cũng khó xanh tốt được.
Điểm trường Hồng Ngài chìm trong biển sương. |
Đường lên bản Hồng Ngài. |
Lớp học Hồng Ngài được đắp bằng đất theo kiểu nhà trình trường của người dân Hà Nhì. |
Vậy nhưng từ bao đời nay, người Hà Nhì và các dân tộc anh em khác đã “lách sương mù” để tạo dựng cuộc sống bằng những căn nhà trình tường ấm áp. Những năm gần đây, người dân Y Tý đã mang cây thảo quả về trồng trên mảnh đất này. Vốn là cây ưa lạnh, thảo quả đã nhanh chóng trở thành “người bạn” cứu cánh xóa đói giảm nghèo cho đồng bào trong các bản xa của Y Tý. Có thảo quả bán là có tiền để trang trải cho cuộc sống gia đình nên chuyện học của bọn trẻ không hề bị đứt đoạn. Thấu hiểu sự khó khăn trong việc đi lại của học sinh nên nhiều điểm trường đã được đặt ngay tại các bản để các em được học chữ. Có phân hiệu, người dân đã khắc phục mọi khó khăn để đưa con em mình đến trường học chữ. Bởi chỉ có con đường học tập thì con em họ mới có cơ hội trở thành người tốt và mong một ngày mai xuống núi đi học đại học về làm cán bộ cho xã, cho bản.
Mang con chữ đến biển mây
Ở Y Tý, người ta phải đếm trường theo số 1, số 2 rồi phân hiệu 1, điểm trường 2… Bởi từ bản này đến bản kia cách nhau tới gần chục cây số mà bàn chân của học trò thì nhỏ nên phải chia thành nhiều phân hiệu. Trường tiểu học Y Tý II có một trường chính và ba điểm trường trong các bản, là Sim San I, Sim San II và Hồng Ngài. Điểm trường gần nhất cách điểm trường chính trên 10 km. Ba điểm trường có học sinh thuộc chín bản với khoảng 120 em, thuộc 5 khối lớp từ 1 - 5 và thêm một lớp học mầm non. Có điểm trường, học trò đến trường học chữ gần hơn nhưng thầy cô phải “ngược núi” xa hơn. Không hề kêu ca, thoái thác nhiệm vụ, mỗi khi được trường phân công lên dạy chữ ở các bản xa, các thầy cô đến với các bản xa Y Tý với tấm lòng cảm thông và đầy yêu thương bọn trẻ. Biết là đi vào nơi gian khổ nhưng biết làm sao được khi ở chốn mờ sương kia, bọn trẻ đang ngày đêm mong đợi con chữ từ các thầy, các cô.
Phòng ở của thầy cô giáo cắm bản ở Y Tý. |
Ngược đường dốc núi lên các bản của Y Tý, tới các điểm trường là một việc không hề đơn giản. Đường dốc dựng đứng, đoạn lại uốn lượn, đến con ngựa thồ hàng cũng thấy chùn chân huống chi là thầy cô cắm bản và bọn trẻ nơi đây. Lên tới Hồng Ngài, bản xa nhất, cao nhất và mờ sương của Y Tý mới biết địa hình nơi đây thật khắc nghiệt. Mới đầu đông mà trời mù mịt sương, chiều đến, mây sa sầm xuống mặt đất, cái lạnh thấu đến da thịt. Để đến được Hồng Ngài, từ trung tâm xã Y Tý, chúng tôi phải đi qua các bản như Lao Chải 1, Lao Chải 2, Sim San 1, Sim San 2. Phân hiệu Trường tiểu học Hồng Ngài của điểm trường Y Tý II được đặt ở đây để con em người Hà Nhì học tập. Trẻ con của ba bản xa là Sim San I, Sim San II và bản Hồng Ngài được học ngay tại đây.
Sân chơi của học trò Y Tý tại phân hiệu. |
Tuy gian khó nhưng học sinh ở các bản xa của Y Tý rất hiếu học. |
Khoảng 3 - 4 giờ chiều, các bản của Y Tý bồng bềnh trong biển mây. Đối với khách du lịch, cảnh sắc đó tuyệt đẹp và thơ mộng. Nhưng phía sau biển mây ấy là cả một sự gian nan và nhọc nhằn. Lớp học của các phân hiệu trường học ở Y Tý thật đơn sơ. Sau chiếc cổng chào làm bằng khung gỗ là dãy nhà ba gian đắp đất theo kiểu nhà trình tường của người Hà Nhì và cột cờ gỗ với lá cờ đỏ bay trong gió sương. Lớp học có bàn ghế nhưng đều đã cũ, có chăng là có chiếc bảng từ đóng trên tường còn mới. Mái của lớp học lợp prôximăng nhưng xung quanh thì trống tuềnh, sương bay vào mù mịt. Vì vậy, chẳng cần có điện mà lớp học vẫn sáng bừng. Mùa này, ngồi trong lớp học, quần áo và mi mắt của bọn trẻ trắng xóa những sợi sương.
Thầy giáo Bùi Văn Phi, cắm bản tại điểm trường Hồng Ngài cho biết: Ở phân hiệu Hồng Ngài học sinh toàn con em người Hà Nhì nhưng vẫn có đủ năm khối. Tuy có năm khối lớp nhưng chỉ có hai giáo viên đứng lớp cộng với một giáo viên mầm non. Thế nên, hai giáo viên ở phân hiệu này phải xoay xở dạy ghép. Lớp học 3 gian nhà trình tường được chia làm hai nửa ngồi chéo nhau. Chuyện gieo mầm chữ ở Hồng Ngài thật không mấy thuận lợi.
Còn đó những khó khăn
Chuyện học chữ đã khó, đời sống của người dân Hà Nhì và đồng bào Dao nơi đây còn khó khăn hơn nhiều. Đỉnh núi mờ sương này chưa có điện, nước sạch thì khan hiếm nên giáo viên cắm bản để dạy chữ hết sức nhọc nhằn. Không ít thầy cô lên các bản Y Tý nhận công tác, cắm bản mà không lo lắng, không rơi lệ vì dấn thân vào vùng khó. Khi vào nhận công tác ở bản, được người dân giúp đỡ làm nhà ở, được học sinh tin yêu giúp họ gắn bó và yêu nghề, yêu thương bọn trẻ.
Ở Phìn Hồ, Nhìu Cồ San, Mò Phú Chải, Hồng Ngài… tuy khó khăn nhưng học sinh rất hiếu học và thích đến trường. Mùa đông về, giá rét nhưng bọn trẻ vẫn đến trường. Tuy nhiên, từ nhà đến các phân hiệu trường không gần nên bọn trẻ phải lặn lội đến trường hết sức khó khăn. Các thầy giáo ở các phân hiệu cho biết: Vào mùa đông, trời rét thấu xương, nhìn bọn trẻ áo rét phong phanh, chân đất, mi mắt và tóc trắng xóa sương mù thấy thương vô cùng. Biết vậy, nhưng cũng chẳng biết giúp chúng được gì bằng việc gửi gắm tình yêu thương vào con chữ và mỗi bài giảng.
Mỗi lần xuống núi sinh hoạt chuyên môn với đồng nghiệp ở điểm trường chính quả là cả một vấn đề lớn đầy gian nan đối với thầy cô ở Y Tý. Đường dốc núi hiểm trở, sương mù mịt, mưa trơn hơn đổ mỡ, đến con ngựa cũng chùn chân huống chi là xe máy. Hàng ngày, việc sinh hoạt đều phụ thuộc vào thức ăn dự trữ hàng tháng trời như cá khô, lạc, muối vừng.
Sau khi tốt nghiệp tiểu học, bọn trẻ ở Y Tý lại phải đi ra trung tâm xã để học tiếp THCS, rồi ra trường THPT số 2 Bát Xát để học THPT. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế khó khăn, đường xa và hiểm trở nên tỷ lệ học sinh học hết THCS, THPT và đi học chuyên nghiệp chỉ đếm trên đầu ngón tay. Mặc dù địa phương cũng vận động, thầy cô ở các trường tuyên truyền và động viên nhiều nhưng bát cơm, manh áo và nỗi nhọc nhằn còn níu bước chân bọn trẻ ở Y Tý. Những năm gần đây, những cái tên như Ly Thó Chụ, Ly Thó Xa, Ly Giờ Gụ, Tráng Thó Phia, Tráng Thị Hoa đã trở thành niềm tự hào và hy vọng lớn lao của người dân trên bản xa của Y Tý. Bởi các em đã vượt mọi khó khăn, quyết tâm xuống núi đi học đại học, mong muốn trong nay mai sẽ làm đổi thay quê hương Y Tý của mình.
Chia tay Y Tý, chúng tôi xuống dốc núi quanh co và nhiều đá nhọn, những cây sa mu ướt đẫm sương đang vươn mình trên những hẻm đá. Y Tý vẫn còn khó khăn lắm, chuyện học, chuyện dạy chữ nơi đây diễn ra chủ yếu bằng nghị lực, bằng niềm tin của con người mà thôi. Học trò nơi đây vẫn cần sự quan tâm hơn nữa của Nhà nước để mai này con chữ sẽ làm bừng sáng cuộc sống nơi đây. Ra về, chúng tôi cùng chung niềm mong mỏi của Y Tý mờ sương.
Bài và ảnh: Nguyễn Thế Lượng