Để làm rõ về giá trị của chuyển đổi số phải được chứng minh bằng năng suất, sức cạnh tranh và lợi ích doanh nghiệp thực sự nhận được, phóng viên báo Tin tức và Dân tộc đã trao đổi với ông Nguyễn Hữu Thập xung quanh vấn đề này.
Thưa ông, doanh nghiệp đang ứng dụng AI đến đâu? Đâu là hiệu quả thực chất, đâu còn mang tính phong trào và doanh nghiệp địa phương sẽ chịu rủi ro gì nếu chậm đổi mới?
Tôi cho rằng mức độ ứng dụng còn rất khác nhau. Có doanh nghiệp mới dùng AI để viết nội dung, tổng hợp tài liệu; có doanh nghiệp đã đưa AI vào chăm sóc khách hàng, dự báo nhu cầu, quản lý tồn kho. Khoảng cách cần vượt qua là từ kỹ năng của một vài cá nhân đến năng lực vận hành của cả doanh nghiệp.
Bản thân tôi bắt đầu từ những việc hằng ngày như nghiên cứu tài liệu, chuẩn bị văn bản, xây dựng kiến nghị cho doanh nghiệp. Qua tự học và thực hành, tôi thấy người đứng đầu phải trực tiếp tìm hiểu, biết đặt yêu cầu và kiểm tra kết quả. AI có thể hỗ trợ rất nhiều, nhưng trách nhiệm quyết định vẫn thuộc về con người.
Một ví dụ có số liệu là dự báo hàng hóa tại FPT Long Châu. Theo công bố của FPT Digital, sau ba tháng thí điểm tại 16 nhà thuốc, tỷ lệ hết hàng giảm xuống dưới 5%, gần như không làm tăng tồn kho. Đây là cách đặt bài toán cụ thể và kiểm chứng bằng kết quả vận hành.
Với doanh nghiệp Tuyên Quang, có thể bắt đầu từ quản lý đơn hàng, công nợ, hồ sơ chất lượng; từng bước dùng AI phân tích nhu cầu, hỗ trợ tìm khách hàng. Mỗi ứng dụng phải có người phụ trách, dữ liệu phù hợp và chỉ tiêu trước, sau để đối chiếu.
Dấu hiệu chạy theo phong trào là mua tài khoản, tổ chức tập huấn rồi để đó; không ai chịu trách nhiệm đưa công cụ vào công việc. Soạn thảo bằng AI vẫn có giá trị nếu tiết kiệm thời gian và bảo đảm chất lượng.
Nguy cơ chậm đổi mới rất cụ thể: báo giá chậm hơn, chi phí cao hơn, khó đáp ứng yêu cầu truy xuất và giao hàng. Khi ấy, doanh nghiệp có thể mất đơn hàng ngay trên thị trường quen thuộc.
Vậy những điểm nghẽn lớn nhất khiến doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhất là ở miền núi - chưa chuyển từ “biết AI” sang “làm chủ AI” là gì, thưa ông? Việt Nam cần có những cơ chế hỗ trợ tài chính, tư vấn, nhân lực và bảo vệ dữ liệu cần phải được thay đổi thế nào?
Thứ nhất, thiếu người dẫn dắt và nhân lực thực hành. Lãnh đạo chưa xác định AI giải quyết việc gì; nhân viên biết thao tác nhưng chưa biết kiểm chứng, tích hợp vào quy trình. Thuê công cụ khá dễ, hình thành năng lực sử dụng bền vững khó hơn nhiều.
Thứ hai, dữ liệu phân tán, quy trình thiếu chuẩn hóa. Số liệu bán hàng, sản xuất, tài chính nằm ở nhiều nơi, có khi không thống nhất. Doanh nghiệp còn lo lộ bí mật kinh doanh, dữ liệu khách hàng và khó chuyển đổi nhà cung cấp. Dữ liệu đầu vào sai có thể dẫn đến những khuyến nghị sai rất thuyết phục.
Thứ ba, nguồn lực đầu tư mỏng và thiếu tư vấn độc lập. Ngoài tiền phần mềm còn có chi phí làm sạch dữ liệu, kết nối hệ thống, đào tạo, bảo trì. Với doanh nghiệp đang lo dòng tiền, một lựa chọn công nghệ sai có thể khiến họ mất cả tiền lẫn niềm tin.
Làm chủ AI, theo tôi, là biết chọn đúng công cụ, kiểm soát dữ liệu, đánh giá kết quả và chủ động thay đổi giải pháp khi cần. Doanh nghiệp nhỏ không nhất thiết phải tự xây mô hình AI.
Vì vậy, hỗ trợ cần bao trùm từ xác định nhu cầu đến vận hành. Tư vấn phải độc lập với việc bán sản phẩm; đào tạo phải “cầm tay chỉ việc” trên nghiệp vụ thực tế, có hỗ trợ sau tập huấn. Mỗi doanh nghiệp cần hình thành ít nhất một nhân sự nòng cốt.
Về dữ liệu, cần hướng dẫn dễ thực hiện về phân quyền, sao lưu, bảo vệ dữ liệu cá nhân và xử lý sự cố; có mẫu hợp đồng làm rõ quyền sử dụng, xuất và chuyển dữ liệu. Nhà cung cấp phải công khai việc lưu trữ, sử dụng dữ liệu để huấn luyện AI và trách nhiệm khi xảy ra sự cố. Không thể để doanh nghiệp nhỏ tự thương lượng mọi rủi ro với nền tảng lớn.
Để Nghị quyết 57 đi vào cuộc sống, vào sản xuất và kinh doanh, ông có những đề xuất, kiến nghị nào? Hiệp hội cần cơ chế ra sao để kết nối công nghệ, dữ liệu, đào tạo AI, phản ánh chính sách và lấy gì đo thành công?
Tôi đề xuất 3 việc, gắn với trách nhiệm thực hiện rõ ràng.
Một là, đưa hỗ trợ đến tận khâu ứng dụng. Nghị quyết 198/2025/QH15 và Nghị định 20/2026/NĐ-CP đã có chính sách cung cấp miễn phí nền tảng số, phần mềm kế toán dùng chung cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và các đối tượng được quy định. Cần tổ chức thực hiện để doanh nghiệp tiếp cận thuận lợi.
Đồng thời, tôi đề nghị thí điểm gói hỗ trợ AI theo nhu cầu, có hạn mức và công khai điều kiện. Với doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ ở địa bàn khó khăn, có thể hỗ trợ 100% chi phí chẩn đoán nhu cầu, đào tạo nền tảng và thử nghiệm ban đầu trong hạn mức được duyệt. Hỗ trợ triển khai sâu cần gắn với cam kết đối ứng, kết quả nghiệm thu; tránh buộc doanh nghiệp ứng toàn bộ tiền rồi chờ hoàn trả.
Hai là, cải cách thủ tục phải đi cùng liên thông dữ liệu. Chính phủ, các bộ, ngành cần thống nhất chuẩn kết nối, tái sử dụng thông tin đã có; địa phương chịu trách nhiệm về thời gian giải quyết thực tế. Hồ sơ hợp lệ đã được cung cấp thì cần khai thác lại, giảm yêu cầu doanh nghiệp kê khai, nộp lặp. Đồng thời, mở khả năng tiếp cận dữ liệu công về quy hoạch, thị trường, tiêu chuẩn để doanh nghiệp ra quyết định tốt hơn.
Ba là, xây dựng mạng lưới hỗ trợ tại địa phương, giao hiệp hội nhiệm vụ cụ thể kèm kinh phí và trách nhiệm giải trình. Tôi đề nghị Việt Nam cần có cơ chế đặt hàng theo kết quả, lựa chọn công khai đơn vị đủ năng lực. Hiệp hội tập hợp nhu cầu; chuyên gia, trường và doanh nghiệp công nghệ tư vấn, đào tạo; cơ quan Nhà nước xử lý vướng mắc chính sách.
Từ những hoạt động tập huấn miễn phí, thực hành AI mà Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Tuyên Quang đang thúc đẩy, cần phát triển sự đồng hành thường xuyên: hỗ trợ lựa chọn giải pháp, theo dõi ứng dụng, tập hợp vấn đề phát sinh. Kiến nghị phải có đầu mối tiếp nhận, thời hạn trả lời và cơ chế theo dõi đến khi giải quyết.
Hiệp hội cũng có thể kết nối kho hướng dẫn và dữ liệu tổng hợp dùng chung. Việc chia sẻ dữ liệu doanh nghiệp phải tự nguyện, đúng pháp luật, rõ mục đích, quyền truy cập và bảo vệ bí mật kinh doanh.
Tôi sẽ đánh giá thành công bằng thời gian xử lý công việc, chi phí trên một sản phẩm, năng suất lao động, tỷ lệ sai sót, khả năng đáp ứng đơn hàng và khách hàng mới. Cần đối chiếu trước, sau, tính cả chi phí công nghệ và kiểm tra việc sử dụng có duy trì hay không. Điều tôi mong muốn là sau mỗi chương trình hỗ trợ, doanh nghiệp tự làm được một việc trước đây còn lúng túng; người lao động có thêm kỹ năng; người dân và doanh nghiệp bớt một lần đi lại, chờ đợi. Khi những thay đổi ấy diễn ra hằng ngày, tinh thần Nghị quyết 57 mới thực sự đi vào cuộc sống.
Xin trân trọng cảm ơn ông!