Đó là, biến các cơ sở đào tạo lớn thành "động cơ" cốt lõi thúc đẩy đổi mới sáng tạo, làm chủ công nghệ và phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Động cơ phát triển
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án nhóm 12 trường đại học có vai trò dẫn dắt giáo dục đại học Thủ đô. Mục tiêu đặt ra đến năm 2030 cụ thể: 100% đại học trên địa bàn đạt chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ít nhất 12 trường giữ vai trò trung tâm về đào tạo tài năng, nghiên cứu, tư vấn chính sách và đổi mới sáng tạo; đồng thời có tối thiểu 2 trường lọt vào nhóm 150 đại học hàng đầu châu Á.
Danh sách 12 cơ sở được gửi gắm sứ mệnh bao gồm các đại học, trường đại học cả khối công lập lẫn tư thục: Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Y Hà Nội, Đại học Giao thông Vận tải, Học viện Bưu chính Viễn thông, Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Xây dựng Hà Nội, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Đại học Luật Hà Nội, cùng hai đại diện khối tư thục là Đại học Phenikaa và Đại học VinUni.
PGS.TS Tạ Hải Tùng, Phó Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội nhận định, trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới, các trường đại học không thể tiếp tục đứng trong "tháp ngà học thuật" tách biệt. Thay vào đó, đại học phải gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp và thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội.
“Trước đây, các đại học chủ yếu cung cấp nguồn lao động chất lượng cao cho công nghiệp hóa. Nhưng tới đây, chúng ta phải đào tạo ra những chuyên gia, những nhà khoa học có khả năng dẫn dắt quá trình phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”. PGS.TS Tạ Hải Tùng nhấn mạnh.
Có 4 trụ cột dẫn dắt mới: Đào tạo gắn với thực tống, tăng tỷ trọng sau đại học (đào tạo chuyên gia, nhà khoa học dẫn dắt); Chuyển mạnh từ nghiên cứu cơ bản sang nghiên cứu ứng dụng/phát triển theo mô hình "3 Nhà" (Nhà nước - Nhà trường - Nhà doanh nghiệp; Hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, ươm tạo tài năng trẻ; Hội nhập và cạnh tranh sòng phẳng trên trường quốc tế.
Đồng quan điểm, PGS.TS Nguyễn Thanh Chương, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Giao thông Vận tải cho rằng, đây là cơ hội lớn để các trường phát huy thế mạnh mũi nhọn. Đơn cử như lĩnh vực giao thông đường sắt – nơi nhà trường có bề dày 65 năm đào tạo độc quyền – hiện đứng trước yêu cầu phải làm chủ công nghệ lõi cho các dự án đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị và tích hợp công nghệ AI, chip bán dẫn trong vận tải.
Điểm đáng chú ý trong Đề án là sự xuất hiện của 2 cơ sở giáo dục ngoài công lập (VinUni và Phenikaa) bên cạnh 10 đại học công lập hàng đầu.
PGS.TS Tạ Hải Tùng hoan nghênh sự góp mặt của khối tư thục, cho rằng đây là bước đi tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh. Các trường tư thục sở hữu thế mạnh vượt trội về quản trị linh hoạt và khả năng điều phối theo mục tiêu. Khi có sứ mệnh phù hợp, họ hoàn toàn xứng đáng nhận được sự đầu tư của Nhà nước và Thủ đô.
Ở góc độ quản lý và chính sách, PGS.TS Nguyễn Thanh Chương phân tích: "Sự xuất hiện này vừa khẳng định trách nhiệm xã hội chung của tất cả các loại hình trường đại học, vừa giúp đa dạng hóa nguồn lực xã hội đầu tư cho giáo dục và nghiên cứu khoa học".
Sự kết hợp giữa khối ngành kỹ thuật và khối ngành xã hội, y tế, sư phạm trong danh sách 12 trường cũng tạo nên một hệ sinh thái phát triển hài hòa, bền vững cho Thủ đô Hà Nội theo đúng tinh thần Luật Thủ đô mới.
Từ thách thức đến mục tiêu dẫn dắt
Đề án đặt ra những con số mục tiêu cho các trường: Tối thiểu 45% giảng viên có trình độ tiến sĩ; Thu hút 600 lượt chuyên gia quốc tế; Tỷ lệ sinh viên theo học các ngành STEM đạt ít nhất 40%
Đại diện Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết, nếu nhìn sang các nước trong khu vực như Malaysia (hơn 10 trường trong top 100 châu Á) hay Thái Lan (gần 10 trường), Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc đua.
Chỉ tiêu đến năm 2030: Giảng viên trình độ Tiến sĩ : ≥ 45%; Chuyên gia quốc tế thu hút : 600 lượt; Tỷ lệ người học ngành STEM : ≥ 40%; ĐH vào Top 150 Châu Á : Tối thiểu 2 trường.
"Đây là thách thức nhưng cũng là cơ hội bắt buộc phải làm. Nếu không, sự phát triển của giáo dục đại học sẽ tụt hậu so với sự phát triển của xã hội. Áp lực mục tiêu lớn đòi hỏi nguồn lực đầu tư tương xứng. Nếu được đầu tư đúng tầm, các đại học Việt Nam hoàn toàn có thể vươn tới và mặc vừa chiếc áo này", PGS.TS Tạ Hải Tùng khẳng định.
Đề án 12 trường đại học dẫn dắt không chỉ dừng lại ở một bản kế hoạch phát triển giáo dục đơn thuần, mà là chiến lược chuẩn bị nguồn lực trí tuệ, công nghệ cốt lõi để đưa Thủ đô và đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – nguyên Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội), Việt Nam đang đứng trước một thời cơ phát triển đặc biệt. Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, mô hình quản trị và năng lực cạnh tranh của các quốc gia. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học không thể chỉ thay đổi từng phần, càng không thể tiếp tục vận hành chủ yếu theo mô hình truyền thụ kiến thức và cấp bằng như trước đây.
Nghị quyết 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu của đất nước. Nghị quyết 71-NQ/TW tiếp tục đặt giáo dục đại học vào vị trí đặc biệt quan trọng, yêu cầu nâng các trường đại học trở thành trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp và đặt mục tiêu Việt Nam có đại học thuộc nhóm 100 hàng đầu thế giới trong một số lĩnh vực.
Theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, để biến khát vọng thành hiện thực, Chiến lược phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn tới cần tạo ra những thay đổi căn bản. Trước hết, mô hình của tương lai phải là “đại học đổi mới sáng tạo”. Đại học thế kỷ XXI không thể chỉ có hai chức năng truyền thống là đào tạo và nghiên cứu. Mô hình phù hợp với Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới phải được hình thành trên ba cấu thành hữu cơ: nghiên cứu, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu tạo ra tri thức. Chuyển đổi số tạo ra phương thức mới để tổ chức, quản trị, đào tạo và khai thác tri thức. Đổi mới sáng tạo biến tri thức thành công nghệ, sản phẩm, doanh nghiệp và những giá trị mới cho xã hội. Ba cấu thành này phải được tích hợp thành một hệ sinh thái thống nhất.
Nghị quyết 71 đặt đúng hướng khi yêu cầu thúc đẩy mô hình đại học đổi mới sáng tạo, đại học công nghệ thế hệ mới; coi các trường đại học là đầu tàu của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo vùng và thúc đẩy hợp tác Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp. Đây phải trở thành mô hình chủ đạo, trước hết đối với các đại học trọng điểm quốc gia.