Tuy nhiên, sản lượng thấp cùng việc phát triển manh mún, nhỏ lẻ trong nhân dân, tỉ lệ chế biến sâu còn thấp… khiến cà phê xứ lạnh chưa mang lại giá trị tương xứng với tiềm năng. Vì vậy, ngành nông nghiệp tỉnh Quảng Ngãi cần có giải pháp để phát triển vùng nguyên liệu cà phê xứ lạnh gắn với thị trường tiêu thụ bền vững.
Nhìn nhận điểm nghẽn
Theo ông Ưng Văn Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Ngãi, với gần 5.600 ha, cà phê xứ lạnh đã hình thành vùng nguyên liệu tương đối rõ nét; diện tích mở rộng, một số giống chất lượng được đưa vào sản xuất, kỹ thuật cải thiện và bước đầu có liên kết giữa người dân với doanh nghiệp. Đặc biệt, việc định hướng đạt 7.000 ha vào năm 2030 tạo ra một không gian đủ lớn để tổ chức ngành hàng. Đây là tiền đề quan trọng để tỉnh thu hút doanh nghiệp đầu tư vào sơ chế, chế biến, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường.
Tuy nhiên, hiện nay là giá trị tạo ra trên một đơn vị diện tích chưa tương xứng với tiềm năng khi chủ yếu sản phẩm tiêu thụ dưới dạng nguyên liệu thô, trong khi phần lớn giá trị của chuỗi nằm ở các khâu sau sản xuất. Một vấn đề khác là tổ chức sản xuất hiện vẫn còn nhỏ lẻ, phân tán; liên kết giữa người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chưa đủ chặt chẽ. Khi quy mô sản xuất nhỏ, việc áp dụng đồng bộ quy trình kỹ thuật, cơ giới hóa, tưới tiết kiệm, thu hoạch chọn lọc và chứng nhận chất lượng sẽ gặp nhiều khó khăn.
Bên cạnh đó, tập quán thu hoạch tuốt một lần khi quả chưa đủ độ chín của bà con nông dân đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguyên liệu và giá bán. Về thị trường, ngành hàng hiện còn phụ thuộc vào thương lái và chưa hình thành được hệ thống tiêu thụ ổn định.
Trong khi đó, Thạc sỹ Bùi Quang Vinh, Trung tâm khuyến nông vùng Đông Nam Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên cho rằng, hiện nay, yêu cầu của thị trường cà phê thế giới đang thay đổi, ưu tiên vào chất lượng, nguồn gốc, tính bền vững, khả năng truy xuất, trách nhiệm môi trường – xã hội và câu chuyện của sản phẩm. Đây là những yếu tố mà các vùng trồng cà phê xứ lạnh tại Quảng Ngãi đang còn thiếu và yếu.
Liên quan đến vấn đề sản lượng, Thạc sỹ Đinh Thị Tiếu Oanh, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI) cho biết, năng suất trung bình của cà phê xứ lạnh tại tỉnh Quảng Ngãi chỉ đạt 19,8 tạ/ha; trong khi một số nơi như Lâm Đồng đạt năng suất khá ấn tượng từ 25 – 28 tạ/ha.
Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc giống trồng tại Quảng Ngãi chủ yếu là cà phê chè Catimor. Đây là giống được du nhập vào Việt Nam từ khoảng 40 năm trước, có năng suất cao, kháng bệnh gỉ sắt, cây lùn thích hợp trồng mật độ dày. Tuy nhiên qua quá trình canh tác, tính kháng bệnh gỉ sắt của Catimor không còn bền vững, bị nhiễm các chủng gỉ sắt mới, dẫn đến cây bị rụng lá và khô cành, ra quả cách năm.
Ngoài ra, tại các vùng núi như Măng Ri, Tu Mơ Rông, Ngọc Linh,… hầu hết bà con trồng cà phê là dân tộc thiểu số, kỹ thuật canh tác còn lạc hậu nên việc đầu tư, chăm sóc không đúng theo quy trình sản xuất. Điều này đã khiến năng suất, chất lượng cà phê suy giảm, thiếu tính bền vững.
Giải pháp phát triển
Lấy con số gần 9 tỷ USD từ xuất khẩu cà phê năm 2025 – là con số kỷ lục của Việt Nam, Thạc sỹ Bùi Quang Vinh cho rằng, thị trường xuất khẩu luôn mang lại giá trị lớn và là tiềm năng phát triển cho ngành hàng cà phê. Chính vì vậy, tỉnh Quảng Ngãi cần nghiên cứu kỹ nhu cầu của thị trường thế giới để phát triển các diện tích cà phê xứ lạnh phù hợp với nhu cầu.
“Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đề xuất 5 giải pháp để phát triển cà phê xứ lạnh là xây dựng và nhân rộng các mô hình vùng nguyên liệu cà phê theo chuỗi giá trị, có doanh nghiệp tham gia ngay từ đầu; củng cố hệ thống khuyến nông cộng đồng; xây dựng các mô hình chuyên biệt về cà phê Arabica, cà phê chất lượng cao và cà phê đặc sản tại những tiểu vùng có lợi thế; đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu và hệ thống truy xuất; tăng cường kết nối “4 nhà” là Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà nông - Nhà doanh nghiệp”, Thạc sỹ Bùi Quang Vinh nêu rõ.
Sau khi phân tích các hạn chế, Thạc sỹ Đinh Thị Tiếu Oanh nhận định, tỉnh Quảng Ngãi cần nghiên cứu và phát triển các giống cà phê chè mới chất lượng cao, phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp thu mua, chế biến đầu tư cơ sở hạ tầng tại chỗ để hỗ trợ vấn đề sơ chế, chế biến sản phẩm sau thu hoạch cho người nông dân trồng cà phê chè, đặc biệt tại các vùng đồi núi, vùng cao có điều kiện đầu tư nguồn vốn khó khăn, thúc đẩy để đảm bảo đầu ra ổn định tại các vùng trồng.
“Những vùng có điều kiện tái canh tốt và khả năng thâm canh cao nên khuyến cáo người trồng đầu tư đúng quy trình và tham gia các tổ chức có chứng nhận để sản xuất vùng nguyên liệu cà phê chè chất lượng cao hơn, có khả năng đưa vào chế biến sâu, tạo được các sản phẩm cà phê đặc sản gắn với xây dựng thương hiệu vùng, miền đặc trưng, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê chè xứ lạnh tỉnh Quảng Ngãi”, Thạc sỹ Đinh Thị Tiếu Oanh nói.
Ông Nguyễn Đức Bình, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi khẳng định, phát triển cà phê xứ lạnh cần phải gắn chặt với thị trường tiêu thụ và chuỗi giá trị sản phẩm. Chính vì vậy, cần chuyển mạnh từ tư duy sản xuất theo khả năng sang sản xuất theo nhu cầu thị trường; không chỉ quan tâm đến diện tích, sản lượng và năng suất mà phải chú trọng chất lượng, giá trị gia tăng và hiệu quả kinh tế của người trồng cà phê.
“Muốn thực hiện được yêu cầu đó, phải hình thành và củng cố mối liên kết thực chất giữa người nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học và cơ quan quản lý nhà nước. Trong đó, doanh nghiệp cần đóng vai trò quan trọng trong tổ chức vùng nguyên liệu, chuyển giao công nghệ, đầu tư chế biến và kết nối thị trường; hợp tác xã là đầu mối tổ chức sản xuất; người nông dân là chủ thể trực tiếp tạo ra sản phẩm chất lượng”, ông Nguyễn Đức Bình nhấn mạnh.
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi đề nghị các cơ quan chuyên môn, chính quyền địa phương và bà con nông dân, doanh nghiệp, hợp tác xã cần rà soát và phát triển vùng nguyên liệu phù hợp; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm; thúc đẩy liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ; nâng cao giá trị và phát triển thương hiệu cà phê xứ lạnh Quảng Ngãi. Đặc biệt, cần kiên trì thực hiện quan điểm: “Nhà nước kiến tạo – Doanh nghiệp dẫn dắt – Hợp tác xã tổ chức – Người dân là chủ thể – Khoa học công nghệ làm nền tảng – Thị trường định hướng”.