Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, riêng tháng 9/2026, giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 6,51 tỷ USD, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng, xuất khẩu nông sản đạt 29,28 tỷ USD, tăng 3,1%; thủy sản 9,17 tỷ USD, tăng 12,3%; lâm sản gần 14,41 tỷ USD, tăng 7,6%. Đáng chú ý, xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 564,4 triệu USD, tăng 24,6%.
Xét theo vùng lãnh thổ, châu Á là thị trường xuất khẩu lớn nhất của các mặt hàng nông, lâm, thủy sản chính của Việt Nam với thị phần chiếm 49,4%. Hai thị trường lớn tiếp theo là châu Mỹ và châu Âu với thị phần lần lượt là 22,2% và 13,5%. Thị phần của 2 khu vực châu Phi và châu Đại Dương nhỏ, chiếm lần lượt 2,3% và 1,5%.
So với cùng kỳ năm trước, ước giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản chính của Việt Nam 9 tháng đầu năm 2026 sang khu vực châu Á tăng 11,9%; châu Mỹ tăng 2,3%; châu Âu tăng 2,6%; châu Đại Dương tăng 15,5%, trong khi châu Phi giảm 16,7%.
Xét theo thị trường chi tiết, Trung Quốc với thị phần 24,4%, Hoa Kỳ với thị phần 19,8%, và Nhật Bản với thị phần 7,4%, là 3 thị trường xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản chính lớn nhất của Việt Nam. So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản sang các thị trường trên đều tăng, đặc biệt thị trường Trung Quốc tăng 18,9%.
Trong nhóm các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, rau quả tiếp tục là điểm sáng với mức tăng trưởng gần 20%. Chín tháng năm 2026, xuất khẩu hàng rau quả đạt gần 7,35 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm 2025. Trung Quốc vẫn là thị trường lớn nhất, chiếm 63% tổng giá trị xuất khẩu rau quả; tiếp đến là Hoa Kỳ và Hàn Quốc. Giá trị xuất khẩu rau quả sang Trung Quốc 8 tháng tăng 38,8%, Hoa Kỳ tăng 17,9% và Hàn Quốc tăng 9,7%.
Thủy sản cũng duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số. Giá trị xuất khẩu 9 tháng đạt 9,17 tỷ USD, tăng 12,3%. Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản là ba thị trường lớn nhất, lần lượt chiếm 23,7%, 15,7% và 14%. Đáng chú ý, xuất khẩu thủy sản sang Trung Quốc tăng 33,9% trong 8 tháng, trong khi Hoa Kỳ và Nhật Bản tăng lần lượt 1,5% và 2,8%.
Ở nhóm lâm sản, gỗ và sản phẩm gỗ tiếp tục giữ vai trò chủ lực. Chín tháng năm 2026, xuất khẩu đạt gần 13,43 tỷ USD, tăng 7,3%. Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất, chiếm 50,1%; Trung Quốc và Nhật Bản lần lượt chiếm 15% và 12,5%. Trong khi giá trị xuất khẩu sang Hoa Kỳ giảm 4,6%, thị trường Trung Quốc tăng tới 43,4% và Nhật Bản tăng 5,3%.
Như vậy, riêng ba nhóm hàng rau quả, thủy sản và gỗ, sản phẩm gỗ đều đạt kim ngạch lớn và duy trì mức tăng trưởng khá, tạo nền tảng quan trọng cho tăng trưởng xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trong những tháng cuối năm.
Trái với xu hướng tăng trưởng của một số nhóm hàng, nhiều nông sản chủ lực đang chịu tác động từ giá xuất khẩu hoặc nhu cầu thị trường. Cà phê là trường hợp đáng chú ý khi lượng xuất khẩu tăng nhưng giá trị giảm. Chín tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 1,4 triệu tấn cà phê, trị giá 6,54 tỷ USD, tăng 15,4% về khối lượng nhưng giảm 7,3% về giá trị. Giá xuất khẩu bình quân đạt 4.537,3 USD/tấn, giảm 19,7% so với cùng kỳ.
Gạo cũng ghi nhận xu hướng tương tự nhưng mức giảm rõ hơn. Khối lượng xuất khẩu 9 tháng đạt 6,4 triệu tấn, trị giá 3,11 tỷ USD, giảm lần lượt 6,1% và 10,9% so với cùng kỳ. Giá gạo xuất khẩu bình quân đạt 484,8 USD/tấn, giảm 5,1%. Philippines vẫn là thị trường lớn nhất với 40,9% thị phần; Trung Quốc chiếm 17,4% và Ghana 12,7%. Đáng chú ý, giá trị xuất khẩu gạo sang Trung Quốc tăng 76% trong 8 tháng.
Cao su cũng giảm về lượng và giá trị. Xuất khẩu cao su đạt 1,1 triệu tấn, trị giá 2,18 tỷ USD, giảm 16,2% về khối lượng và 4,4% về giá trị. Tuy nhiên, giá xuất khẩu bình quân tăng 14,1%, lên 2.016,8 USD/tấn.
Với chè, khối lượng xuất khẩu giảm 7,7% nhưng giá trị vẫn tăng nhẹ 0,4%, đạt 167,9 triệu USD; giá xuất khẩu bình quân tăng 8,7%. Giá có vai trò quan trọng trong việc bù đắp một phần mức giảm về lượng.
Một số mặt hàng nông sản khác tiếp tục ghi nhận kết quả tích cực. Xuất khẩu hạt điều 9 tháng đạt 543,4 nghìn tấn, trị giá 3,85 tỷ USD. Dù khối lượng giảm 2%, giá trị vẫn tăng 2% nhờ giá xuất khẩu bình quân tăng 4,2%, lên 7.084,4 USD/tấn. Trung Quốc, Hoa Kỳ và Hà Lan là ba thị trường lớn nhất.
Hạt tiêu có mức tăng khá cả về lượng và giá trị. Việt Nam xuất khẩu 214,4 nghìn tấn, trị giá 1,4 tỷ USD, tăng lần lượt 15% và 10,2%. Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường lớn nhất với 26,7% thị phần, tiếp đến là Đức và Thái Lan. Đáng chú ý, giá trị xuất khẩu sang Thái Lan tăng 52,8%, trong khi thị trường Thổ Nhĩ Kỳ tăng 97,7% trong nhóm 15 thị trường lớn.
Ở chiều ngược lại, lũy kế 9 tháng, tổng giá trị nhập khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 39,4 tỷ USD, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước. Trong số đó, giá trị nhập khẩu các mặt hàng nông sản đạt 24,96 tỷ USD, tăng 11,3%; sản phẩm chăn nuôi đạt 4 tỷ USD, tăng 21,4%; thủy sản đạt 2,44 tỷ USD, tăng 0,6%; lâm sản đạt 2,81 tỷ USD, tăng 17%.