Việt Nam tiến gần vai trò trung tâm sản xuất công nghệ cao của châu Á

Sản xuất công nghiệp tăng hơn 21%, xuất khẩu vượt 43 tỷ USD và FDI duy trì tích cực cho thấy Việt Nam đang củng cố vai trò trong chuỗi cung ứng khu vực. Tuy nhiên, nâng cấp chuỗi giá trị mới là yếu tố quyết định lợi thế dài hạn và phân hóa cơ hội đầu tư.

Sản xuất tăng tốc, chuỗi giá trị nâng chất

Theo báo cáo vĩ mô tháng 1/2026 của Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), bức tranh công nghiệp đầu năm 2026 có sự phục hồi mạnh cả về tốc độ lẫn cấu trúc ngành. Cụ thể, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 21,54% so với cùng kỳ năm trước; riêng ngành chế biến, chế tạo tăng 23,6%. Đây không chỉ là mức tăng cao về mặt thống kê mà còn phản ánh sự cải thiện thực chất ở đơn hàng và công suất vận hành của doanh nghiệp.

Chú thích ảnh
Nhà máy điện tử công nghệ cao tại Việt Nam - lĩnh vực thu hút mạnh dòng vốn FDI. Ảnh minh hoạ

Cơ cấu tăng trưởng cũng thể hiện động lực tập trung ở các ngành có hàm lượng công nghệ và kỹ thuật. Cụ thể, linh kiện điện thoại tăng 92,7%; xe có động cơ tăng 48,5%; xe máy tăng 54,3% so với cùng kỳ năm trước. Việc nhóm linh kiện điện tử tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ cho thấy Việt Nam tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong chuỗi sản xuất thiết bị điện tử khu vực, đặc biệt trong bối cảnh các tập đoàn đa quốc gia tái cấu trúc chuỗi cung ứng.

Báo cáo vĩ mô của Shinhan Securities Việt Nam cũng chỉ rõ, chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) đạt 52,5 điểm trong tháng 1 và duy trì trên ngưỡng 50 điểm trong 7 tháng liên tiếp. Việc PMI đạt trên 50 điểm đồng nghĩa hoạt động sản xuất mở rộng. Đáng chú ý, cả đơn hàng mới và sản lượng đều tăng, cho thấy sự cải thiện không chỉ đến từ yếu tố nền thấp mà từ cầu thực tế.

Về thương mại, xuất khẩu đạt 43,19 tỷ USD, tăng 29,7% so với cùng kỳ năm trước. Quy mô trên 40 tỷ USD mỗi tháng đưa Việt Nam vào nhóm nền kinh tế xuất khẩu lớn của châu Á. Tuy nhiên, nhập khẩu tăng mạnh hơn, đạt 44,97 tỷ USD, tăng 49,2% so với cùng kỳ năm trước khiến cán cân thương mại thâm hụt 1,7 tỷ USD. Mức tăng nhập khẩu cao cho thấy, nhu cầu lớn về linh kiện, bán thành phẩm và thiết bị công nghệ phục vụ sản xuất. Điều này phản ánh đặc trưng của mô hình tăng trưởng dựa vào chế biến, chế tạo định hướng xuất khẩu, nhưng đồng thời đặt ra câu hỏi về tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa.

Ở góc độ đầu tư, vốn FDI thực hiện trong tháng 1 đạt 1,68 tỷ USD, tập trung vào lĩnh vực chế biến, chế tạo. Công ty Chứng khoán ACB (ACBS) nhận định, môi trường vĩ mô ổn định và lạm phát được kiểm soát giúp Việt Nam duy trì sức hấp dẫn với nhà đầu tư nước ngoài. Việc dòng vốn FDI tiếp tục đổ vào sản xuất cho thấy, Việt Nam vẫn là điểm đến ưu tiên trong chiến lược đa dạng hóa chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tuy nhiên, Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam (YSVN) cho rằng, mức độ lan tỏa sang doanh nghiệp nội địa chưa đồng đều. Điều này hàm ý dù sản lượng và xuất khẩu tăng mạnh, phần giá trị giữ lại trong nước còn hạn chế nếu doanh nghiệp nội địa chưa tham gia sâu vào khâu linh kiện và công nghệ lõi.

Nhìn tổng thể, Việt Nam đã đạt được quy mô sản xuất đủ lớn để đóng vai trò mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng điện tử và cơ khí của khu vực. Tuy nhiên, sự phụ thuộc vào nhập khẩu đầu vào và tỷ lệ nội địa hóa còn thấp cho thấy nền tảng công nghệ nội sinh vẫn cần được củng cố. Chính điểm này sẽ quyết định liệu tăng trưởng công nghiệp hiện nay chỉ là mở rộng quy mô hay là bước đệm để tiến tới vị thế trung tâm sản xuất công nghệ cao trong những năm tới.

Những ngành hưởng lợi từ “công xưởng mở rộng”

Từ các báo cáo vĩ mô của các công ty chứng khoán, Việt Nam tiếp tục duy trì vai trò là trung tâm sản xuất quy mô lớn trong khu vực, dù chưa nâng cấp sâu về công nghệ lõi, tác động lan tỏa trên thị trường chứng khoán sẽ thể hiện rõ ở các nhóm ngành hưởng lợi theo chu kỳ dòng vốn và mở rộng sản lượng.

Chú thích ảnh
Logistics và cảng biển là một trong nhóm ngành được hưởng lợi nếu Việt Nam tiến gần trung tâm sản xuất công nghệ cao của châu Á. 

Trước hết là bất động sản khu công nghiệp. VDSC ghi nhận FDI thực hiện đạt 1,68 tỷ USD trong tháng đầu năm, tập trung vào chế biến, chế tạo. Điều này cho thấy nhu cầu mở rộng nhà máy và hạ tầng sản xuất vẫn hiện hữu. Trên thị trường, các doanh nghiệp sở hữu quỹ đất lớn, hạ tầng hoàn chỉnh và vị trí kết nối thuận lợi như KBC, BCM, IDC hay SZC thường được xem là nhóm hưởng lợi trực tiếp khi dòng vốn FDI tăng tốc. Tuy nhiên, triển vọng còn phụ thuộc vào tiến độ hạ tầng liên vùng và khả năng mở rộng quỹ đất.

Với nhóm logistics và cảng biển, Shinhan Securities Việt Nam cho biết PMI duy trì trên 50 điểm và đơn hàng xuất khẩu tăng, trong khi xuất khẩu đạt 43,19 tỷ USD trong tháng 1. Quy mô thương mại lớn tạo nền tảng cho sản lượng hàng hóa qua cảng duy trì ở mức cao. Trên thị trường, các doanh nghiệp khai thác cảng và logistics tích hợp như GMD, HAH hoặc VSC thường được hưởng lợi khi kim ngạch thương mại mở rộng. Tuy nhiên, nhóm này chịu ảnh hưởng đáng kể từ chu kỳ thương mại toàn cầu.

Ngành ngân hàng hưởng lợi gián tiếp từ sản xuất và FDI mở rộng. ACBS đánh giá môi trường vĩ mô ổn định tạo điều kiện cho tăng trưởng tín dụng. Khi doanh nghiệp tăng đầu tư và xuất khẩu, nhu cầu tín dụng trung - dài hạn và tài trợ thương mại gia tăng. Trên thị trường, các ngân hàng có tỷ trọng cho vay sản xuất - xuất khẩu cao như VCB, BID hoặc TCB thường được theo dõi trong bối cảnh này. Tuy nhiên, lợi nhuận vẫn phụ thuộc vào điều hành lãi suất và chất lượng tài sản.

Ở nhóm vật liệu xây dựng và thép, quy mô đầu tư công năm 2026 trên 1.008.322,6 tỷ đồng cùng với mở rộng khu công nghiệp có thể hỗ trợ nhu cầu xây dựng nhà xưởng và hạ tầng. Các doanh nghiệp như HPG, HSG hay NKG thường được nhắc tới khi câu chuyện đầu tư công và sản xuất tăng tốc được đặt ra. Tuy nhiên, ngành này mang tính chu kỳ cao và nhạy cảm với biến động giá nguyên liệu.

YSVN lưu ý sự lan tỏa sang doanh nghiệp nội địa chưa đồng đều. Điều này cho thấy nếu Việt Nam chỉ dừng ở vai trò lắp ráp quy mô lớn, nhóm hưởng lợi chủ yếu sẽ là khu công nghiệp, logistics, ngân hàng và vật liệu xây dựng. Ngược lại, nếu nâng được tỷ lệ nội địa hóa và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, nhóm công nghiệp phụ trợ và doanh nghiệp kỹ thuật chính xác mới có khả năng cải thiện biên lợi nhuận bền vững.

Vì vậy, với nhà đầu tư, câu chuyện “trung tâm sản xuất công nghệ cao” cần được phân tách rõ giữa tăng trưởng theo quy mô và tăng trưởng theo chất lượng. Sự khác biệt này sẽ quyết định nhóm ngành nào tạo ra lợi thế dài hạn thay vì chỉ hưởng lợi ngắn hạn theo chu kỳ dòng vốn.

Bài và ảnh: Hải Yên/Báo Tin tức và Dân tộc

Dành cho bạn

TP Hồ Chí Minh quảng bá Diễn đàn Kinh tế mùa Thu tại Seoul

TP Hồ Chí Minh quảng bá Diễn đàn Kinh tế mùa Thu tại Seoul

TP Hồ Chí Minh đã triển khai quảng bá Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026 trên hệ thống màn hình điện tử tại phố đi bộ Myeongdong ở Seoul (Hàn Quốc). Hoạt động nhằm đưa thông tin sự kiện đến doanh nghiệp, nhà đầu tư và công chúng quốc tế trước ngày khai mạc.

Bộ Xây dựng rốt ráo thực hiện '6 rõ' trong giải ngân

Bộ Xây dựng rốt ráo thực hiện '6 rõ' trong giải ngân

Thời gian thi công từ nay đến cuối năm 2026 chỉ còn hơn 2 tháng, trong khi khối lượng công việc còn lại rất lớn, nếu các cơ quan, đơn vị không có sự nỗ lực vượt bậc sẽ không thể giải ngân hết số vốn được giao - Đây là nhận định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh tại Chỉ thị về việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân kế hoạch đầu tư công năm 2026 mới đây; đồng thời yêu cầu tổ chức điều hành và giải ngân dự án phải thể hiện cụ thể nội dung “6 rõ” (Rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền) để bảo đảm hiệu quả giải quyết công việc.

Cơ hội hợp tác Việt Nam- Na Uy về điện gió ngoài khơi

Cơ hội hợp tác Việt Nam- Na Uy về điện gió ngoài khơi

Với lợi thế tài nguyên gió và nền tảng công nghiệp dầu khí biển, Việt Nam đang thúc đẩy hợp tác với Na Uy về công nghệ, đầu tư và chuỗi cung ứng, mở rộng cơ hội phát triển điện gió ngoài khơi, hướng tới mục tiêu Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đề ra là tổng công suất 6.000 MW vào năm 2030 và 17.000 MW vào năm 2035.

Cao tốc Bến Lức - Long Thành đánh thức tiềm năng vùng- Bài 2: Để lợi thế hạ tầng thành động lực tăng trưởng

Cao tốc Bến Lức - Long Thành đánh thức tiềm năng vùng- Bài 2: Để lợi thế hạ tầng thành động lực tăng trưởng

Cao tốc Bến Lức - Long Thành mở thêm hành lang giao thông kết nối Đồng bằng sông Cửu Long với Thành phố Hồ Chí Minh và Đông Nam Bộ, tạo cơ hội mở rộng không gian phát triển cho các địa phương. Để biến lợi thế hạ tầng thành động lực tăng trưởng, Tây Ninh và Đồng Tháp hướng đến gắn quy hoạch giao thông với phát triển công nghiệp, logistics, kinh tế biển, nông nghiệp chế biến và cải thiện môi trường đầu tư thu hút dòng vốn đầu tư.