Văn hóa là sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định phát triển nguồn lực con người và phát triển văn hóa được đặt trong nhóm nhiệm vụ trọng tâm, nhằm biến văn hóa thành nền tảng tỉnh thần, sức mạnh nội sinh và động lực to lớn cho phát triển nhanh, bền vững đất nước.

trinhdienchieng-7275.jpg
Phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Ảnh: Viết Tôn/Báo Tin tức và Dân tộc

Từ “nền tảng tinh thần" đến nền tảng vững chắc

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam ra đời, đánh dấu một bước phát triển mới trong tư duy lý luận và tư duy phát triển của Đảng về văn hóa, con người. Nghị quyết xác định phát triển văn hóa, con người là “nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”; đồng thời đặt yêu cầu các giá trị văn hóa phải thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội và trở thành sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới. Đây không chỉ là sự bổ sung thuật ngữ, mà phản ánh sự thay đổi về chất trong cách nhìn nhận vị trí, chức năng và phương thức phát triển văn hóa.

Có thể khái quát những quan điểm mới của Đảng qua ba chuyển đổi lớn: Từ coi văn hóa chủ yếu là nền tảng tỉnh thần sang xác lập văn hóa đồng thời là trụ cột và hệ điều tiết của phát triển; từ nhấn mạnh xây dựng văn hóa sang phát huy sức mạnh văn hóa, con người như nguồn lực nội sinh, năng lực cạnh tranh và sức mạnh mềm; từ tư duy quản lý văn hóa theo lĩnh vực sang kiến tạo hệ sinh thái phát triển văn hóa trong cả không gian thực và không gian số.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn bày tỏ, quan điểm coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội là thành quả lý luận có tính xuyên suốt trong đường lối của Đảng. Giá trị của quan điểm này nằm ở việc khẳng định phát triển không thể chỉ được đo bằng của cải vật chất, mà phải được bảo đảm bằng đời sống tinh thần, đạo đức, hệ giá trị và năng lực sáng tạo của con người.

Tuy nhiên, thực tiễn đổi mới cũng cho thấy một nghịch lý: Trong không ít trường hợp, văn hóa vẫn bị xem là lĩnh vực “đi sau", là phần việc bổ trợ hoặc là khoản chỉ mang tính phúc lợi. Khi tư duy ấy tồn tại, văn hóa khó có thể tham gia từ đầu vào quá trình hoạch định chiến lược phát triển, khó trở thành tiêu chí đánh giá chất lượng tăng trưởng và càng khó chuyển hóa thành nguồn lực kinh tế - xã hội.

Nghị quyết số 80-NQ/TW mở rộng đáng kể nội hàm của vị trí văn hóa. Việc xác định văn hóa, con người là “trụ cột” của phát triển có nghĩa rằng văn hóa không đứng bên cạnh kinh tế, chính trị, xã hội, mà cấu thành một bộ phận của chính mô hình phát triển. Điều này đòi hỏi mọi quyết sách về kinh tế, đô thị, giáo dục, khoa học - công nghệ, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại đều phải tính đến tác động văn hóa và tác động đối với con người.

Một dự án phát triển không thể được coi là thành công nếu làm tăng GDP nhưng phá vỡ cảnh quan văn hóa, làm suy giảm niềm tin xã hội hoặc bào mòn bản sắc cộng đồng. Ngược lại, đầu tư cho thiết chế văn hóa, giáo dục nghệ thuật, di sản, sáng tạo, không gian công cộng hay công nghiệp văn hóa cần được nhìn nhận như đầu tư cho năng lực phát triển dài hạn.

Khái niệm “hệ điều tiết" còn mở ra một tầng nghĩa sâu hơn. Trong nền kinh tế thị trường và xã hội số, pháp luật và cơ chế thị trường là cần thiết nhưng chưa đủ để điều chỉnh toàn bộ hành vi xã hội. Văn hóa, thông qua hệ giá trị, chuẩn mực, niềm tin và dư luận xã hội, tạo ra “hạ tầng mềm” định hướng hành vi.

Văn hóa trong chính trị góp phần hình thành đạo đức công vụ và trách nhiệm giải trình; văn hóa trong kinh tế tạo ra chữ tín, đạo đức kinh doanh và thương hiệu; văn hóa trong môi trường định hình lối sống xanh; văn hóa trong công nghệ đặt ra giới hạn nhân văn cho việc sử dụng dữ liệu và trítuệ nhân tạo. Nhìn từ góc độ này, văn hóa vừa tạo động lực vừa tạo giới hạn, vừa khuyến khích sáng tạo vừa giúp xã hội tự điều chỉnh để phát triển không đánh đổi con người, cộng đồng và tương lai.

Tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã phát biểu rõ bước chuyển nhận thức này khi yêu cầu “chuyển từ tư duy coi văn hóa là một lĩnh vực phát triển sang xác lập văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là trụ cột của phát triển, động lực tăng trưởng mới, hiện diện trong mọi quyết sách về kinh tế, chính trị, giáo dục, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và quản trị quốc gia".

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, ý nghĩa lý luận của thông điệp này nằm ở chỗ: Văn hóa không còn được xác định chỉ bằng phạm vi ngành, mà bằng mức độ hiện diện trong toàn bộ cấu trúc phát triển.

Sự thay đổi đó cũng tương thích với một xu thế quốc tế ngày càng rõ. Khung chỉ số văn hóa 2030 của UNESCO coi văn hóa vừa là một lĩnh vực hoạt động độc lập, vừa có đóng góp xuyên suốt đối với nhiều. Mục tiêu phát triển bền vững; mục tiêu của bộ chỉ số là làm cho đóng góp của văn hóa đối với phát triển trở nên hữu hình, đo lường được và có thể chuyển hóa thành căn cứ hoạch định chính sách.

Bài học ở đây không phải là sao chép một hệ chỉ số, mà là chuyển từ tư duy chứng minh giá trị văn hóa bằng diễn ngôn sang chứng minh bằng dữ liệu, tác động và kết quả. Đây cũng là tiền đề quan trọng để văn hóa thực sự được đặt ngang hàng và tham gia bình đẳng vào các quyết định phân bổ nguồn lực phát triển.

Như vậy, điểm mới căn bản của quan điểm Đảng không phải là phủ định những nhận thức trước đây, mà là phát triển chúng lên một trình độ mới. “Nền tảng tinh thần" vẫn là cốt lõi, nhưng được mở rộng thành nền tảng vững chắc; “mục tiêu và động lực" được cụ thể hóa thành nguồn lực nội sinh, động lực tăng trưởng; “đặt ngang hàng" được phát triển thành "trụ cột”; còn chức năng định hướng giá trị được nâng lên thành “hệ điều tiết”. Đây là sự chuyển dịch từ cách tiếp cận văn hóa như một lĩnh vực sang cách tiếp cận văn hóa như một chiều kích của toàn bộ phát triển.

chiengmuong-8655.jpg
Nghị quyết 80 nhấn mạnh phát triển toàn diện văn hóa, con người trên nền tảng hệ giá trị quốc gia. Ảnh: Viết Tôn/Báo Tin tức và Dân tộc

Phát huy sức mạnh văn hóa, con người như nguồn lực nội sinh

PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhận định: Nếu trước đây, trọng tâm của chính sách văn hóa thường tập trung vào bảo tồn di sản, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, tổ chức hoạt động nghệ thuật và nâng cao mức hưởng thụ, thì quan điểm mới của Đảng đặt ra yêu cầu cao hơn: Phải chuyển hóa giá trị văn hóa và phẩm chất con người thành sức mạnh phát triển. Nói cách khác, văn hóa không chỉ cần "được chăm lo” mà phải “tạo ra giá trị”; con người không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà là chủ thể sáng tạo và nguồn lực quyết định.

Trước hết, phát triển con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới phải được nhìn trong sự thống nhất giữa phẩm chất và năng lực. Những giá trị bền vững như yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, trách nhiệm vẫn là nền tảng, nhưng con người của kỷ nguyên số còn cần tư duy độc lập, năng lực sáng tạo, khả năng học tập suốt đời, kỹ năng số, ý thức pháp luật, tinh thần hợp tác và năng lực hội nhập quốc tế. Nghị quyết 80 nhấn mạnh phát triển toàn diện văn hóa, con người trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; đồng thời đề cao đạo đức, tài năng, sức sáng tạo và khát vọng cống hiến. Điều này cho thấy quan niệm về con người đã được đặt trong quan hệ trực tiếp với yêu cầu phát triển quốc gia và năng lực cạnh tranh.

Sự phát triển ấy có quan hệ chặt chẽ với các đột phá chiến lược khác. Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là yếu tố quyết định phát triển, là thời cơ để đất nước vươn lên trong kỷ nguyên mới. Nhưng công nghệ chỉ trở thành sức mạnh quốc gia khi được vận hành bởi những con người có năng lực sáng tạo, đạo đức, bản lĩnh văn hóa và khả năng làm chủ công nghệ. Vì thế, phát triển văn hóa và phát triển khoa học - công nghệ không phải hai chương trình tách biệt; văn hóa tạo nên mục đích, giá trị và giới hạn nhân văn của công nghệ, trong khi công nghệ mở rộng không gian sáng tạo, lưu trữ, phổ biến và kinh doanh các sản phẩm văn hóa.

Ở chiều hội nhập, Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới mở rộng hội nhập sang các lĩnh vực văn hóa, xã hội, du lịch, giáo dục, khoa học và công nghệ, đặt hội nhập trong logic của việc mở rộng không gian phát triển và nâng cao vị thế quốc gia. Điều đó đặt ra yêu cầu văn hóa Việt Nam không chỉ “giữ mình” trước toàn cầu hóa mà phải có năng lực tham gia, đối thoại, cạnh tranh và lan tỏa. Bản sắc chỉ thực sự bền vững khi có khả năng được sáng tạo lại trong đời sống đương đại; sức mạnh mềm chỉ hình thành khi giá trị văn hóa được chuyển hóa thành những câu chuyện, sản phẩm, biểu tượng và trải nghiệm có sức hấp dẫn đối với công chúng trong và ngoài nước.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn chỉ ra, từ góc độ kinh tế, xu hướng thế giới cho thấy công nghiệp sáng tạo đang trở thành một khu vực tăng trưởng quan trọng. Báo cáo Creative Economy Outlook 2024 của UNCTAD cho thấy, tại các nền kinh tế có dữ liệu, khu vực kinh tế sáng tạo đóng góp từ khoảng 0,5% đến 7,3% GDP và từ 0,5% đến 12,5% việc làm; đồng thời lưu ý sự khác biệt lớn giữa các quốc gia về định nghĩa và phương pháp đo lường. Điều đáng chú ý hơn con số tuyệt đối là tư duy chính sách phía sau: văn hóa được nhìn như một chuỗi giá trị, nơi sáng tạo kết nối với sở hữu trí tuệ, công nghệ, tài chính, phân phối, thương mại và xuất khẩu. Muốn biến văn hóa thành nguồn lực, phải xây dựng được thị trường, dữ liệu và các định chế hỗ trợ tương ứng.

"Có thể thấy, chuyển hóa văn hóa thành sức mạnh phát triển cần ít nhất bốn điều kiện: Một là, xác lập quyền sở hữu trí tuệ và cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch; hai là, có thị trường và doanh nghiệp đủ năng lực thương mại hóa sáng tạo; ba là, có hạ tầng số và hệ thống phân phối giúp sản phẩm tiếp cận công chúng lớn; bốn là, có chính sách phát triển tài năng và chấp nhận rủi ro sáng tạo. Đây cũng là những vấn đề Việt Nam cần tập trung nếu muốn đạt mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp ngày càng lớn vào GDP và trở thành một cấu phần thực chất của sức mạnh mềm quốc gia", PGS.TS Bùi Hoài Sơn khẳng định.

Viết Tôn - Bài và ảnh: Viết Tôn/Báo Tin tức và Dân tộc

Dành cho bạn

Huyền thoại Naruto trở lại màn ảnh sau 9 năm

Huyền thoại Naruto trở lại màn ảnh sau 9 năm

Loạt phim hoạt hình (anime) đình đám “Naruto” sẽ trở lại với phần phim mới gồm 4 tập sau 9 năm gián đoạn, trong nỗ lực làm mới thương hiệu đã chinh phục khán giả tại hơn 145 thị trường trên thế giới.

Từ ký ức áo bà ba đến sức sống di sản hôm nay

Từ ký ức áo bà ba đến sức sống di sản hôm nay

Trong ký ức nhiều thế hệ người dân Nam Bộ, áo bà ba không chỉ là trang phục quen thuộc mà còn gắn với quê hương và vẻ đẹp người phụ nữ miền sông nước. Mộc mạc, giản dị nhưng duyên dáng, chiếc áo hiện diện trong đời sống và những năm tháng đấu tranh giành độc lập.