Tăng cường các chính sách để giúp vùng đồng bào dân tộc thiểu sổ phát triển bền vững

Điều mà cử tri là đồng bào dân tộc thiểu số quan tâm nhất chính là làm thế nào để đời sống ngày càng được cải thiện, có sinh kế ổn định, được tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ thiết yếu, đồng thời giữ vững chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.

Lắng nghe ý kiến cử tri với tinh thần cầu thị, tìm hiểu rõ nguyên nhân, hoàn cảnh và mong muốn thực sự của người dân không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận ý kiến, mà còn là trách nhiệm của người đại biểu dân cử. Đây là những ý kiến tâm huyết của Đại biểu Quốc hội Hoàng Ngọc Định - Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng Tuyên Quang khi trao đổi với phóng viên báo Tin tức và Dân tộc.

hnd-9640.jpg
Đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang Hoàng Ngọc Định phát biểu tại cuộc họp thảo luận tại tổ. Ảnh: Viết Tôn/Báo Tin tức và Dân tộc

Thưa đại biểu, trong các cuộc tiếp xúc cử tri, nhân dân đã có các kiến nghị liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới, chính sách dân tộc, chính sách đối với lực lượng làm nhiệm vụ ở khu vực biên giới và công tác xây dựng nền biên phòng toàn dân. Xin ông cho biết nội dung những kiến nghị này là gì?

Qua các cuộc tiếp xúc cử tri, đặc biệt tại các xã biên giới, vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh Tuyên Quang, tôi nhận thấy điều mà cử tri quan tâm nhất chính là làm thế nào để đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện, có sinh kế ổn định, được tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ thiết yếu, đồng thời giữ vững chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.

Những ý kiến, kiến nghị của cử tri tập trung vào một số nhóm vấn đề chủ yếu: Trước hết, về phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới, cử tri mong muốn Đảng, Nhà nước tiếp tục quan tâm bố trí nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là hệ thống giao thông kết nối các xã, thôn, bản biên giới; công trình điện, nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế và hạ tầng viễn thông. Đây là những nhu cầu rất thiết thực bởi ở nhiều địa bàn miền núi, địa hình chia cắt, điều kiện đi lại khó khăn, thiên tai, sạt lở vẫn là những trở ngại lớn đối với phát triển kinh tế và đời sống của nhân dân.

Bên cạnh đó, cử tri đề nghị có chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa phù hợp với điều kiện từng địa phương; hỗ trợ vốn vay ưu đãi, chuyển giao khoa học kỹ thuật, phát triển các sản phẩm đặc trưng, dược liệu, chăn nuôi, du lịch cộng đồng và kết nối thị trường tiêu thụ sản phẩm. Điều người dân mong muốn không chỉ là được hỗ trợ trước mắt mà quan trọng hơn là có việc làm, có thu nhập ổn định và có khả năng vươn lên thoát nghèo bền vững.

Về chính sách dân tộc và an sinh xã hội, cử tri đề nghị tiếp tục hoàn thiện các chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là những hộ nghèo, hộ cận nghèo, các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn và người dân sinh sống ở địa bàn đặc biệt khó khăn. Trong đó, cần quan tâm giải quyết tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt; nâng cao chất lượng giáo dục, y tế; đào tạo nghề, tạo việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số; đồng thời có cơ chế bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch và kinh tế địa phương.

Một vấn đề nữa được cử tri quan tâm là việc tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia cần bảo đảm tính đồng bộ, thủ tục đơn giản, phù hợp với đặc thù miền núi, biên giới, để nguồn lực đầu tư thực sự đến được với người dân và phát huy hiệu quả.

Đối với lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ tại khu vực biên giới, cử tri quan tâm đến chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng và các lực lượng có liên quan đang công tác tại những địa bàn xa xôi, đặc biệt khó khăn. Các đề xuất tập trung vào việc tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện chế độ phụ cấp, chính sách thu hút, đãi ngộ; cải thiện điều kiện sinh hoạt, công tác; đầu tư trang thiết bị, phương tiện phục vụ quản lý, bảo vệ biên giới và thực hiện nhiệm vụ ở địa bàn.

Đồng thời, cần có cơ chế hỗ trợ phù hợp đối với những người trực tiếp tham gia bảo vệ đường biên, cột mốc, giữ gìn an ninh trật tự ở thôn, bản, cũng như phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng các dân tộc.

Về xây dựng nền biên phòng toàn dân, cử tri mong muốn tiếp tục củng cố cơ chế phối hợp giữa Bộ đội Biên phòng với cấp ủy, chính quyền, các tổ chức đoàn thể và Nhân dân khu vực biên giới; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; nhân rộng các mô hình quần chúng tham gia tự quản đường biên, cột mốc, giữ gìn an ninh trật tự thôn, bản và hỗ trợ Nhân dân phát triển kinh tế, giảm nghèo.

Theo tôi, điểm chung của các kiến nghị này là nguyện vọng được quan tâm đầu tư, tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc phát triển kinh tế, nâng cao đời sống, yên tâm sinh sống, gắn bó lâu dài với biên giới.

Bởi vậy, đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới không chỉ là giải quyết vấn đề dân sinh, mà còn là đầu tư cho quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Khi người dân có cuộc sống ổn định, có niềm tin, có trách nhiệm và quyền lợi gắn liền với biên giới, thì mỗi người dân sẽ trở thành một chủ thể tích cực tham gia bảo vệ đường biên, cột mốc, góp phần xây dựng nền biên phòng toàn dân ngày càng vững chắc.

lc14.jpg
Làng Lô Lô Chải, xã Lũng Cú (Tuyên Quang) là điểm du lịch hấp dẫn luôn được du khách tìm tới tham quan. Ảnh: Viết Tôn/Báo Tin tức và Dân tộc

Việc đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới cần có sự kết nối chặt chẽ giữa thực tiễn địa phương với quá trình hoạch định chính sách ở Trung ương. Vậy qua thực tế tại địa phương, thời gian qua việc kết nối, hoạch định chính sách phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia được Tuyên Quang triển khai ra sao, thưa ông?

Tôi cho rằng, việc kết nối giữa thực tiễn địa phương với quá trình xây dựng, hoàn thiện chính sách ở Trung ương có ý nghĩa hết sức quan trọng. Bởi một chủ trương, chính sách dù đúng đắn đến đâu cũng chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi phù hợp với điều kiện thực tiễn, giải quyết được những vấn đề mà người dân đang gặp phải.

Đối với tỉnh Tuyên Quang, sau khi hợp nhất với tỉnh Hà Giang, địa bàn rộng hơn, quy mô dân số lớn hơn, đặc biệt là tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 73% dân số. Đây vừa là điều kiện để mở rộng không gian phát triển, vừa đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc tổ chức thực hiện các chính sách dân tộc, miền núi và phát triển kinh tế - xã hội khu vực biên giới.

Trong những năm qua, thông qua việc triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, tỉnh đã tập trung nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng thiết yếu, hỗ trợ phát triển sản xuất, cải thiện điều kiện nhà ở, nước sinh hoạt, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế và đời sống văn hóa cho nhân dân.

Theo số liệu được công bố, tổng nguồn vốn thực hiện Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tại Tuyên Quang giai đoạn 2021 - 2025 là hơn 9.367 tỷ đồng. Đây là nguồn lực quan trọng góp phần cải thiện hạ tầng, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội tại những địa bàn còn nhiều khó khăn.

Điều đáng quan tâm là quá trình triển khai đã từng bước chuyển từ hỗ trợ đơn thuần sang tạo sinh kế, phát huy nội lực của người dân; chú trọng phát triển sản xuất phù hợp với điều kiện tự nhiên, tập quán và lợi thế từng địa bàn. Các mô hình phát triển nông nghiệp đặc sản, chăn nuôi, trồng dược liệu, du lịch cộng đồng và bảo tồn văn hóa truyền thống là những hướng đi cần tiếp tục được quan tâm, hỗ trợ và nhân rộng trên cơ sở đánh giá hiệu quả thực tế.

Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy vẫn còn những khó khăn, vướng mắc cần tiếp tục tháo gỡ. Đó là điều kiện địa hình phức tạp, dân cư phân tán, nhu cầu đầu tư lớn trong khi nguồn lực còn hạn chế; năng lực tổ chức thực hiện ở một số cơ sở chưa đồng đều; một số thủ tục, quy định về quản lý, sử dụng vốn và triển khai dự án còn khó áp dụng tại các địa bàn đặc biệt khó khăn.

Đặc biệt, trong năm 2026, Tuyên Quang đồng thời phải tiếp tục thực hiện, giải ngân nguồn vốn của giai đoạn trước được phép kéo dài và chuẩn bị, tổ chức triển khai chương trình trong giai đoạn mới. Đây là một nhiệm vụ có khối lượng lớn, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành và chính quyền cơ sở.

Tôi cho rằng, từ thực tiễn đó, việc kết nối với quá trình hoạch định chính sách ở Trung ương cần được thể hiện trên ba phương diện: Thường xuyên rà soát, tổng hợp những bất cập trong triển khai; phản ánh đầy đủ khó khăn và kiến nghị của cơ sở đến cơ quan có thẩm quyền; đồng thời chủ động cụ thể hóa các cơ chế, chính sách phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh.

Một điểm đáng chú ý là ngày 24/8/2026, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 46/2026/QH16, phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 trên cơ sở hợp nhất bốn chương trình mục tiêu quốc gia. Đây là căn cứ quan trọng để các địa phương tiếp tục tổ chức thực hiện chính sách theo hướng đồng bộ, hạn chế chồng chéo, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Theo đó, chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, Bộ đội Biên phòng Tuyên Quang được Bộ Quốc phòng, BTL Bộ đội Biên phòng giao nhiệm vụ thực hiện 5 hạng mục; trong đó có 4 hạng mục về cải tạo, nâng cấp đường giao thông và 1 hạng mục về nước sạch phát triển kinh tế - xã hội kết hợp bảo đảm Quốc phòng an ninh tại các xã khu vực biên giới trong tỉnh.

Đối với Tuyên Quang, tôi cho rằng cần đặc biệt quan tâm đến tính đặc thù của địa bàn biên giới, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là cơ chế phân bổ nguồn lực, phân cấp, phân quyền, lựa chọn các dự án thiết thực và tăng cường vai trò giám sát của cộng đồng.

Quan điểm của tôi là "Chính sách phải xuất phát từ cuộc sống, được kiểm nghiệm bằng thực tiễn và lấy mức độ cải thiện đời sống của nhân dân làm thước đo hiệu quả". Đối với vùng biên giới, sự phát triển còn phải gắn chặt với yêu cầu giữ vững quốc phòng, an ninh, củng cố hệ thống chính trị cơ sở và xây dựng thế trận lòng dân vững chắc.

lc21.jpg
Làng Lô Lô Chải, xã Lũng Cú nhìn từ trên cao. Ảnh: Viết Tôn/Báo Tin tức và Dân tộc

Trong kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI tới đây, những kiến nghị ấy sẽ được ông gửi tới Quốc hội ra sao và những kiến nghị ấy nếu được giải quyết sẽ hỗ trợ đồng bào như thế nào, thưa ông?

Với trách nhiệm của người đại biểu Quốc hội, tôi xác định việc lắng nghe, tiếp thu và phản ánh trung thực, đầy đủ tâm tư, nguyện vọng chính đáng của cử tri và nhân dân đến Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng.

Những ý kiến, kiến nghị của cử tri, đặc biệt là cử tri khu vực biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, sẽ được tôi tiếp tục nghiên cứu, tổng hợp, phân loại theo từng nhóm vấn đề để chuyển tải đến các cơ quan có thẩm quyền thông qua hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội, các phiên thảo luận tại tổ, tại hội trường, hoạt động chất vấn, kiến nghị và giám sát việc thực hiện chính sách. Trong đó, tôi sẽ tập trung quan tâm, kiến nghị một số nội dung trọng tâm.

Thứ nhất, đề nghị tiếp tục ưu tiên nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cho các xã biên giới, vùng đặc biệt khó khăn; nhất là giao thông, điện, nước sinh hoạt, trường học, cơ sở y tế, hạ tầng số và các công trình phục vụ dân sinh gắn với quốc phòng, an ninh.

Thứ hai, kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia theo hướng tăng cường phân cấp, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục, bảo đảm nguồn lực được phân bổ đúng đối tượng, đúng nhu cầu và phù hợp với đặc thù của từng địa bàn. Đồng thời, quan tâm hơn đến chính sách hỗ trợ sinh kế, phát triển sản xuất, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, tạo điều kiện để đồng bào dân tộc thiểu số chủ động phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập.

Thứ ba, tiếp tục đề xuất nghiên cứu, hoàn thiện chính sách đối với lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ tại khu vực biên giới, nhất là những địa bàn đặc biệt khó khăn; đồng thời có cơ chế phù hợp để khuyến khích, hỗ trợ nhân dân tham gia quản lý, bảo vệ đường biên, cột mốc, giữ gìn an ninh trật tự, góp phần xây dựng nền biên phòng toàn dân vững mạnh.

Tôi cũng đặc biệt quan tâm đến việc tăng cường giám sát quá trình triển khai các chính sách đã được ban hành, bởi điều quan trọng không chỉ là có chủ trương, chính sách mà còn phải bảo đảm chính sách được thực hiện kịp thời, đúng đối tượng và mang lại hiệu quả thiết thực.

Nếu những kiến nghị này được quan tâm xem xét, giải quyết, tôi tin rằng sẽ tạo ra những chuyển biến tích cực trên nhiều phương diện.

Trước hết, người dân vùng biên giới sẽ có điều kiện tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ thiết yếu, có thêm cơ hội phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và giảm nghèo bền vững. Trẻ em vùng cao có điều kiện học tập tốt hơn; người dân được chăm sóc sức khỏe thuận lợi hơn; những khó khăn về giao thông, điện, nước sinh hoạt và điều kiện sản xuất từng bước được tháo gỡ.

Đồng thời, khi các chính sách dân tộc được triển khai hiệu quả sẽ góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa miền núi với miền xuôi, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo điều kiện để đồng bào gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống, đồng thời chủ động hội nhập, phát triển.

Đặc biệt, đối với khu vực biên giới, khi đời sống Nhân dân ngày càng được nâng cao, hệ thống chính trị cơ sở được củng cố, các lực lượng làm nhiệm vụ được bảo đảm tốt hơn về điều kiện công tác và chính sách, thì sức mạnh tổng hợp trong quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia cũng sẽ được tăng cường.

Tôi cho rằng, phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới và xây dựng nền biên phòng toàn dân là hai nhiệm vụ có mối quan hệ mật thiết, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Một khu vực biên giới ổn định, phát triển, Nhân dân đoàn kết, tin tưởng và gắn bó với quê hương chính là nền tảng quan trọng để giữ vững chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.

Với tôi, trách nhiệm của người đại biểu Quốc hội không chỉ dừng lại ở việc chuyển tải tiếng nói của cử tri đến nghị trường, mà còn phải theo dõi, đôn đốc, giám sát quá trình giải quyết các kiến nghị ấy, để mỗi chủ trương, chính sách thực sự đi vào cuộc sống và mang lại lợi ích thiết thực cho Nhân dân.

Tôi mong muốn rằng, với sự quan tâm của Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương cùng sự nỗ lực của cấp ủy, chính quyền và Nhân dân địa phương, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và biên giới Tuyên Quang sẽ tiếp tục có bước phát triển vững chắc; đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào ngày càng được nâng cao, góp phần xây dựng khu vực biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Bài, ảnh: Viết Tôn/Báo Tin tức và Dân tộc