Theo phóng viên TTXVN tại Hong Kong (Trung Quốc), nghiên cứu được thực hiện dựa trên việc phân tích 6.942 hồ sơ bệnh nhân từ cơ sở dữ liệu của HKBCF trong giai đoạn 2011–2015. Các chuyên gia đã so sánh hơn 700 trường hợp phát hiện bệnh qua tầm soát định kỳ (khi chưa có triệu chứng lâm sàng) với hơn 6.200 trường hợp chỉ được chẩn đoán sau khi xuất hiện dấu hiệu bất thường, như có khối u ở vú.
Kết quả cho thấy, tỷ lệ sống sót sau 10 năm ở nhóm phát hiện qua tầm soát đạt 88%, so với 74% ở nhóm phát hiện khi đã có triệu chứng - chênh lệch khoảng 14 điểm phần trăm.
Đáng chú ý, các ca bệnh phát hiện qua tầm soát cũng có tỷ lệ chuyển sang giai đoạn tiến triển thấp hơn nhiều: chỉ 3% chuyển sang giai đoạn muộn, trong khi tỷ lệ này ở nhóm phát hiện qua triệu chứng lên tới 21%.
Sự chênh lệch này còn thể hiện rõ trong phác đồ điều trị ngoại khoa và y khoa giữa hai nhóm. Cụ thể, chỉ có 25% bệnh nhân phát hiện qua tầm soát phải tiến hành hóa trị, so với 65% ở nhóm phát hiện khi có triệu chứng. Bên cạnh đó, tỷ lệ bệnh nhân phát hiện ung thư qua tầm soát được phẫu thuật bảo tồn vú cao hơn đáng kể, đạt 56,6%, so với 32,6% ở nhóm có triệu chứng.
Lý giải về điều này, Bác sĩ Hứa Y Văn (Rina Hui Yee-man), thành viên Ủy ban Quản lý Dữ liệu Ung thư vú Hong Kong kiêm Giám đốc Trung tâm Y học Ung thư thuộc Đại học Hong Kong (HKU), cho biết các ca ung thư phát hiện qua tầm soát đa phần ở giai đoạn sớm, giúp bệnh nhân có nhiều cơ hội phẫu thuật bảo tồn vú hơn và ít phải can thiệp hóa trị hơn.
Bà cho biết thêm, tầm soát định kỳ giúp giảm thiểu các phương pháp phẫu thuật và điều trị xâm lấn, từ đó không chỉ cải thiện tỷ lệ sống sót sau 10 năm mà còn góp phần giảm chi phí điều trị cho bệnh nhân.
Từ những căn cứ khoa học thực tiễn, Quỹ Ung thư vú Hong Kong kiến nghị chính quyền Đặc khu sớm triển khai chương trình tầm soát ung thư vú trên toàn thành phố, đồng thời khuyến cáo phụ nữ từ 40 tuổi trở lên nên thực hiện chụp X-quang tuyến vú định kỳ 2 năm một lần.