Nợ nước ngoài của Indonesia tăng lên gần 410 tỷ USD 

Theo Phóng viên TTXVN tại Jakarta, Ngân hàng Trung ương Indonesia (BI) đã lưu ý nợ nước ngoài của nước này đã tăng từ 408,6 tỷ USD vào tháng 6/2020 lên khoảng 409,7 tỷ USD vào tháng 7/2020.
Chú thích ảnh
Một khu chợ ven đường ở Surabaya, Indonesia Ảnh: AFP/TTXVN

Các khoản nợ bao gồm nợ nước ngoài của khu vực công (chính phủ và ngân hàng trung ương) lên tới 201,8 tỷ USD và nợ nước ngoài của khu vực tư nhân (bao gồm doanh nghiệp nhà nước) là 207,9 tỷ USD. Tổng nợ nước ngoài này tăng 4,1% hàng năm.

Tuy nhiên, theo Giám đốc điều hành, Trưởng ban truyền thông của BI Onny Widjanarko, tăng trưởng nợ nước ngoài trong tháng 7/2020 chậm hơn so với tháng trước được ghi nhận mức tăng 5,1% do sự sụt giảm tăng trưởng nợ nước ngoài của khu vực tư nhân và nợ nước ngoài của chính phủ tăng trưởng tương đối ổn định.

Theo ông Onny Widjanarko, nợ chính phủ lên tới 199 tỷ USD, tăng 2,3% vào tháng Bảy. Việc gia tăng nợ là do việc rút một phần cam kết của các tổ chức đa phương và việc phát hành trái phiếu Samurai để đáp ứng nhu cầu tài chính, bao gồm cả việc xử lý đại dịch COVID-19 và phục hồi nền kinh tế quốc gia (PEN). Trong khi đó, nợ tư nhân tăng 6,1%, chủ yếu là lĩnh vực dịch vụ tài chính và bảo hiểm, lĩnh vực cung cấp điện, khí đốt, hơi nước, khai thác và chế tạo đá…

Việc gia tăng nợ đã làm tỷ lệ nợ nước ngoài trên Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cũng tăng lên 38,2% so với tháng 6/2020 là 37,4%. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, nợ nước ngoài vẫn chủ yếu là nợ dài hạn, chiếm 89,1% tổng nợ nước ngoài.

Ông Onny Widjanarko cho biết thêm, để duy trì cơ cấu nợ nước ngoài lành mạnh, BI và chính phủ sẽ tiếp tục cải thiện sự phối hợp trong việc giám sát sự phát triển của nợ nước ngoài, được hỗ trợ bởi việc áp dụng nguyên tắc thận trọng trong quản lý. Trong đó, vai trò của nợ nước ngoài cũng sẽ tiếp tục được tối ưu hóa trong việc hỗ trợ tài chính cho phát triển bằng cách giảm thiểu rủi ro có thể ảnh hưởng đến sự ổn định kinh tế.

Đình Ánh - P/v TTXVN tại Jakarta

Dành cho bạn

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài cuối: Những tuyến đường đến các cực tăng trưởng mới

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài cuối: Những tuyến đường đến các cực tăng trưởng mới

Cao tốc, sân bay và cảng biển tạo lợi thế tiếp cận, nhưng dòng vốn chỉ ở lại nơi có đất sạch, điện, nước, nhân lực, môi trường và thủ tục đủ tin cậy. Từ Vân Phong, Nhơn Hội, Buôn Ma Thuột đến Liên Chiểu và các đô thị dọc cao tốc Lâm Đồng, miền Trung - Tây Nguyên đang hình thành nhiều điểm hội tụ mới. Thách thức là biến các dự án riêng lẻ thành hệ sinh thái và phân chia lợi ích liên vùng.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Hạ tầng có thể rút ngắn một chuyến xe, nhưng chưa chắc nâng giá trị một tấn nông sản. Giá trị chỉ tăng khi vùng nguyên liệu được số hóa, sản phẩm được bảo quản, chế biến, kiểm định và bán bằng thương hiệu của mình. Từ cà phê, sầu riêng ở Đắk Lắk, rau hoa và trái cây Lâm Đồng đến dữ liệu di sản Huế, chuỗi giá trị mới đang đòi hỏi hạ tầng rộng hơn đường sá: hạ tầng số, tiêu chuẩn và năng lực sáng tạo.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Miền Trung có chuỗi cảng nước sâu trải dọc bờ biển, còn phía Tây là vùng sản xuất rộng lớn nối sang Lào và Campuchia nhưng một cầu cảng lớn không mặc nhiên có nguồn hàng, cũng như một tuyến cao tốc chưa chắc tạo nên hành lang kinh tế. Cuộc cạnh tranh mới nằm ở năng lực tổ chức hậu phương cảng, vận tải đa phương thức và hệ sinh thái dịch vụ giữ hàng hóa ở lại lâu hơn.