Những tín hiệu đáng lo ngại đằng sau đàm phán Iran - Mỹ

Các chuyến thăm ngoại giao tới Tehran vẫn tiếp diễn, nhưng chưa có nhiều dấu hiệu cho thấy thế bế tắc đàm phán giữa Mỹ và Iran đang được tháo gỡ.

tenluairan.jpg
Ảnh minh họa: IRNA/TTXVN phát

Theo truyền thông Iran ngày 22/10, mặc dù Pakistan, Qatar và Nga nỗ lực chuyển thông điệp giữa Iran và Mỹ, nhưng các quan chức và nhà phân tích cảnh báo khả năng xung đột tái diễn. Câu hỏi giờ đây không chỉ đơn thuần là liệu thỏa thuận có khả thi hay không, mà còn là liệu ngoại giao có thể tạo ra khác biệt trước khi các tính toán quân sự bắt đầu lấn át những quyết định chính trị hay không.

Quan điểm về urani làm giàu

Trong cuộc gặp với Tư lệnh Lục quân Pakistan Asim Munir, ông Mohsen Rezaei, Thư ký Hội đồng An ninh Quốc gia Tối cao Iran, tuyên bố: “Không một gam uranium làm giàu nào sẽ rời Iran”.

Chủ tịch Quốc hội Iran Mohammad Bagher Ghalibaf cũng tuyên bố Mỹ phải đáp ứng 7 điều kiện của Iran để giành được lòng tin của nước này.

Thông điệp rất rõ ràng: Iran không sẵn sàng từ bỏ đòn bẩy chiến lược trước khi đạt được những nhượng bộ mà nước này mong muốn.

Tuy nhiên, những tuyên bố trên cùng các nỗ lực ngoại giao mới nhất không đồng nghĩa các bên sắp đạt thỏa thuận. Tehran và Washington vẫn bất đồng về trình tự thực hiện các bước đi. Iran muốn Mỹ dỡ bỏ các biện pháp gây sức ép đối với nước này và lệnh phong tỏa hải quân rồi mới bắt đầu đàm phán hạt nhân, trong khi Mỹ muốn chương trình hạt nhân của Iran trở thành trọng tâm ngay từ đầu các cuộc đàm phán.

Lo ngại giao tranh tái diễn

Những lo ngại về khả năng giao tranh tái diễn không còn chỉ giới hạn ở các kịch bản xấu nhất. Các thông tin gần đây cho thấy Iran đang chuẩn bị về mặt quân sự và có những dự báo về khả năng xảy ra thêm các cuộc tấn công.

Các quan chức Iran cho biết nước này đang chuẩn bị ứng phó với khả năng Mỹ và Israel tấn công, đồng thời ít hy vọng đạt được thỏa thuận nhanh chóng do không tin tưởng Mỹ. Một quan chức tuyên bố: “Iran đang chuẩn bị cho các cuộc tấn công mới của Israel và Mỹ, chứ không phải chuẩn bị cho thỏa thuận với Mỹ nhằm chấm dứt chiến tranh”.

Tuy nhiên, dự liệu khả năng sắp xảy ra một cuộc tấn công không đồng nghĩa với việc khẳng định không thể tránh khỏi cuộc chiến toàn diện. Chính trị gia Iran Mohammad Atrianfar cho rằng khả năng xảy ra chiến tranh toàn diện tương đối thấp, đồng thời lập luận rằng phần lớn tâm lý lo ngại trong công chúng bắt nguồn từ sự bất định về những diễn biến sắp tới. Dù vậy, ông không loại trừ khả năng xảy ra các cuộc tấn công hạn chế hoặc rải rác.

Nhà phân tích chính sách đối ngoại Ali Bigdeli đưa ra đánh giá bi quan hơn. Hồi tháng 9, ông cảnh báo nguy cơ xảy ra cuộc chiến trên diện rộng là cao, đồng thời cho rằng xung đột kéo dài có thể làm cạn kiệt nguồn lực của các quốc gia và khiến việc ra quyết định chính trị ngày càng khó khăn.

Những đánh giá này không hẳn mâu thuẫn với nhau. Nguy cơ các cuộc tấn công tái diễn có thể nghiêm trọng, ngay cả khi chiến tranh toàn diện chưa phải là điều không thể tránh khỏi. Mối nguy hiểm nằm ở khoảng cách giữa cuộc tấn công hạn chế và bước leo thang vượt khỏi tầm kiểm soát. Mỗi bên có thể coi hành động của mình là kiềm chế hoặc nhằm răn đe đối phương, trong khi bên kia lại xem đó là dấu hiệu báo trước một cuộc tấn công quy mô lớn hơn.

Bất đồng về đàm phán

Tổng thống Iran Masoud Pezeshkian đã trực tiếp nêu lên mối lo ngại của nước này: “Người dân chúng tôi hiện nay cho rằng nếu chúng tôi đàm phán, Mỹ sẽ lại tấn công chúng tôi”. Tâm lý thiếu tin tưởng này phản ánh cách Iran nhìn nhận những nỗ lực ngoại giao trước đây mà theo các quan chức nước này, đã bị gián đoạn bởi các cuộc tấn công quân sự. Trong bối cảnh đó, đơn thuần quay trở lại bàn đàm phán không thể bảo đảm các hành động thù địch sẽ không tái diễn.

Nhà phân tích chính trị Fereydoun Majlesi nhấn mạnh những tổn thất về con người và kinh tế do tình trạng đối đầu kéo dài gây ra. Đề cập đến việc cần thiết phải chấm dứt chiến tranh, ông cho rằng trong điều kiện hiện nay, lệnh ngừng bắn sẽ phục vụ lợi ích của người dân. Ông cảnh báo cuộc khủng hoảng kéo dài, cùng tình trạng thất nghiệp và lạm phát gia tăng, sẽ tiếp tục làm xói mòn niềm tin và hy vọng của công chúng.

Ở chiều ngược lại, nhà phân tích Iran Masoud Barati đặt câu hỏi về giả định cho rằng chỉ riêng đàm phán cũng có thể ngăn chặn chiến tranh. Những khác biệt giữa các đánh giá này cho thấy cuộc tranh luận tại Iran không đơn thuần xoay quanh lựa chọn giữa chiến tranh và ngoại giao. Câu hỏi cốt lõi là liệu thỏa thuận có thể vừa giảm sức ép đối với Iran, vừa hạn chế nguy cơ xảy ra một cuộc tấn công khác hay không.

Eo biển Hormuz

Đề xuất của Iran về một tiến trình kéo dài 7 ngày nhằm mở lại eo biển Hormuz là nỗ lực gắn vấn đề an ninh hàng hải với việc dỡ bỏ lệnh phong tỏa và các biện pháp hạn chế kinh tế. Iran tuyên bố có thể mở lại eo biển này và nối lại đàm phán nếu Mỹ chấp nhận các điều kiện của nước này. Trong khi đó, Mỹ muốn vấn đề hạt nhân được giải quyết ngay từ đầu.

Eo biển Hormuz không chỉ là một điểm bất đồng trong tranh chấp này. Đây còn là đòn bẩy tác động đến các tính toán kinh tế và an ninh của cả hai bên. Tuy nhiên, eo biển Hormuz càng trở thành công cụ gây sức ép lẫn nhau thì cái giá phải trả cho việc kéo dài khủng hoảng càng lớn. Những thông tin về tình trạng gián đoạn xuất khẩu dầu của Iran và sức ép kinh tế do lệnh phong tỏa hải quân gây ra cho thấy việc duy trì thế bế tắc cũng khiến Iran phải trả giá.

Điều này làm gia tăng nguy cơ tính toán sai lầm. Nếu Iran cho rằng Mỹ chỉ nhượng bộ khi phải chịu sức ép lớn hơn, còn Mỹ tin rằng sức ép quân sự có thể buộc Iran đưa ra những nhượng bộ, thì cả hai bên đều có thể thực hiện những bước đi làm tăng nguy cơ xung đột thay vì phá vỡ thế bế tắc.

Phép thử đối với các bên trung gian

Chuyến thăm của ông Munir cùng các cuộc tham vấn ngoại giao có sự tham gia của Nga và Qatar cho thấy các kênh liên lạc vẫn được duy trì. Tuy nhiên, hiệu quả trung gian hòa giải cần được đánh giá bằng kết quả thực tế: các bên có thể thống nhất về những bước đi ban đầu, các cam kết có đi có lại và cơ chế ngăn chặn các cuộc tấn công tái diễn hay không?

Nếu không thể đạt được những thỏa thuận đó, việc tiếp tục duy trì các cuộc tiếp xúc ngoại giao không ngăn được chiến tranh. Mối nguy hiểm cốt lõi là ngoại giao vẫn tiếp diễn trong khi cả hai bên đều chuẩn bị cho khả năng các nỗ lực này thất bại. Trong hoàn cảnh như vậy, một cuộc tấn công hạn chế, một lời cảnh báo mới hoặc diễn giải sai ý định của đối phương có thể khơi mào quá trình leo thang mà ban đầu không bên nào chủ định đẩy đi đến mức độ cuối cùng.

Do đó, không nên coi những dấu hiệu nguy cơ chiến tranh là bằng chứng cho thấy xung đột chắc chắn sẽ xảy ra. Nhưng cũng không nên xem nhẹ những dấu hiệu này như những thủ thuật mặc cả đơn thuần. Chừng nào hai bên chưa giải quyết được bất đồng về trình tự nhượng bộ và chưa xử lý được tâm lý thiếu tin tưởng đối với các cam kết của nhau, hoạt động ngoại giao và công tác chuẩn bị quân sự nhiều khả năng vẫn sẽ diễn ra song song. Tình trạng này càng kéo dài, nguy cơ tính toán sai lầm càng lớn.

Thùy Dương/Báo Tin tức và Dân tộc

Dành cho bạn

Tổng thống Nga Vladimir Putin và đặc phái viên Mỹ Steve Witkoff trong cuộc gặp tại Cung điện Konstantinovsky ở St. Petersburg. Ảnh: Sputnik

Đằng sau việc Nga đơn phương trả tự do cho công dân Mỹ

Nga trả tự do cho một công dân Mỹ mà không cần trao đổi tù nhân. Động thái diễn ra ngay trước cuộc gặp giữa Tổng thống Vladimir Putin và đặc phái viên Mỹ Steve Witkoff, đặt ra câu hỏi về những tính toán phía sau quyết định này.