Những câu chuyện về Đường Hồ Chí Minh trên biển - Kỳ 20: Những bến tàu không số

Lộ Diêu, xã Hoài Mỹ, huyện Hoài Nhơn (Bình Định), địa điểm đã vinh dự đón tàu “không số” vào rạng sáng ngày 1/11/1964, với chuyến hàng đầu tiên chở trên 30 tấn vũ khí chi viện cho chiến trường khu 5 một cách an toàn.

Bến Lộ Diêu đón chuyến hàng đầu tiên

Lộ Diêu, xã Hoài Mỹ, huyện Hoài Nhơn (Bình Định), địa điểm đã vinh dự đón tàu “không số” vào rạng sáng ngày 1/11/1964, với chuyến hàng đầu tiên chở trên 30 tấn vũ khí chi viện cho chiến trường khu 5 một cách an toàn.

Những câu chuyện về Đường Hồ Chí Minh trên biển - Kỳ 20: Những bến tàu không số ảnh 1

Ông Nguyễn Minh Châu (người ngoài cùng bên trái) 12 lần làm thuyền trưởng tầu không số 403.


Theo yêu cầu của chiến trường và sự chỉ đạo của Trung ương, tháng 7/1963, Tỉnh ủy Bình Định đã thành lập đoàn công tác đặc biệt ra miền Bắc gồm các đồng chí đảng viên: Lê Văn Nốt, thôn Lộ Diêu; Phan Văn Kiệm và Phan Văn Khương, thôn Phú Thứ, xã Mỹ Đức và đồng chí Trần Phi Khanh làm Trưởng đoàn để báo cáo cho Trung ương về công tác chuẩn bị của tỉnh Bình Định. Sau 4 tháng vượt rừng núi Trường Sơn, cuối cùng đoàn đã về đến Hà Nội, làm việc với Cục Tác chiến (Bộ Tổng tham mưu) và Đoàn 125 Hải quân. Đặc biệt, Đoàn đã được Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp. Sau khi nghe báo cáo, Trung ương đã chỉ thị cho tỉnh Bình Định thành lập bộ phận chuyên trách (gọi là HB15) chuẩn bị các mặt để đón tàu vào. Tỉnh ủy Bình Định đã nhanh chóng thành lập HB15, do đồng chí Trương Trọng Hạng, Tỉnh đội phó - Tham mưu trưởng trực tiếp chỉ huy và thành lập 2 đại đội được chọn lựa kỹ càng và huấn luyện về chính trị, kỹ thuật quân sự và trang bị đài 15 W để thường xuyên liên lạc với cấp trên.

Còn Đoàn 125 Hải quân đã quyết định cử tàu 401 lên đường vào Bình Định. Tàu 401 đóng theo dạng tàu cá miền Nam, trọng tải 35 tấn, tàu có 12 người, thuyền trưởng là đồng chí Phạm Vạn (quê ở Quảng Ngãi); 2 thuyền phó là các đồng chí Trần Phấn và Trần Phi Khanh (quê Bình Định); chính trị viên là đồng chí Đặng Văn Thanh(quê Bình Thuận) cùng 8 thuyền viên khác là Nguyễn Văn Hiệu, Phạm Trường Nam, Lê Văn Nốt, Lê Quang Hiến, Phạm Văn Dợn, Trần Kim Hiền, Ngô Dần và Đặng Hồng Hoàng.

Những câu chuyện về Đường Hồ Chí Minh trên biển - Kỳ 20: Những bến tàu không số ảnh 2

Tượng đài kỷ niệm nơi tàu không số 401 cập bến xã Hoài Mỹ, huyện Hoài Nhơn (Bình Định).


Ngày 21/9/1964, lễ tiễn các thủy thủ tàu 401 về Bình Định đã được tổ chức tại cảng Bích Động (Hải Phòng) và ngày hôm sau, tàu chở trên 30 tấn vũ khí rời bến. Ông Nốt kể lại, ngày hôm đó gió mùa đông bắc tràn về mạnh, khi tàu ra đến đảo Long Châu, gió lên đến cấp 7, sóng ngày càng to nên buộc tàu phải quay trở lại bến. Đến ngày 10/10, tàu lại xuất phát lần thứ 2, nhưng rồi lại gặp bão, tàu đành trú tạm vào đảo Hải Nam (Trung Quốc). Đến ngày 25/10/1964, tàu lại nhổ neo, tiếp tục hành trình. Khi đến hải phận vùng biển quốc tế, hạm đội 7 của Mỹ đã phát hiện có tàu lạ và cho 2 chiếc máy bay theo dõi nhưng do tàu ngụy trang tốt nên địch chưa phát hiện tàu của ta, tuy nhiên chúng vẫn nghi ngờ, cho 2 tàu hải quân đóng tại Đà Nẵng bám sát theo. Anh em trên tàu đã xác định nếu bị phát hiện thì sẵn sàng chiến đấu hy sinh và hủy tàu cùng vũ khí trước khi bọn chúng biết. Nhưng rất may, đến ngày 31/10, khi tàu gần đến hải phận Bình Định, trời lại kéo mây mưa, nổi gió và sóng lớn nên tàu địch buộc phải rút lui. Tranh thủ thời cơ, tàu 401 chuyển ngang hướng vào Lộ Diêu, nhưng gió quá to nên thuyền đã bị trôi dạt vào vùng biển Phù Mỹ vào lúc 3 giờ sáng. Chỉ huy tàu đã cho tàu chạy ngược về Lộ Diêu vào lúc 4 giờ ngày 1/11/1964, nhưng trời vẫn tiếp tục mưa và sóng lớn. Cùng lúc đó tín hiệu trên bờ đã liên lạc với tàu và tranh thủ thời gian với phương án huy động lực lượng vận chuyển vũ khí trên tàu xuống ghe nhỏ và chở lên địa điểm chôn bí mật; mọi công việc đã hoàn tất trước khi trời sáng. Ban chỉ huy hạ lệnh đốt tàu để xóa tung tích. Tàu đã cháy trong suốt 3 ngày đêm. Người dân loan báo là tàu cá bị bão đánh vào bờ và bị bốc cháy để che đậy máy bay địch đi tuần tra ven bờ biển.

"Tàu không số" cập bến Lộ Diêu an toàn đã đáp ứng kịp thời vũ khí đạn dược cho các Trung đoàn Quân khu 5 và sau này là Sư đoàn 3 Sao Vàng chiến đấu.

Bến tàu trên quê hương Đồng Khởi

Bến Tre là một trong số các đầu cầu tiếp nhận vũ khí từ đoàn tàu không số huyền thoại. Trong thời gian từ 1963 – 1970, đã có hơn 1.500 tấn vũ khí, vật chất (tiền, vàng, thuốc men, tài liệu mật) từ miền Bắc chi viện cho miền Nam được tiếp nhận, cất giấu và trung chuyển qua dải đất cù lao này. Số vũ khí, vật chất này sau đó được vận chuyển, tiếp tế cho các tỉnh, thành trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam bộ, góp phần làm nên nhiều chiến thắng lẫy lừng, có ý nghĩa chiến lược đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc.

Xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú chính là nơi tiếp nhận phần lớn trong số 1.500 tấn vũ khí, vật chất nói trên. Tại xã ven biển này, nhiều người dân trực tiếp tiếp nhận, bảo vệ căn cứ vẫn còn nhớ như in những sự kiện, chi tiết của những việc xảy ra cách đây gần 50 năm.

Hơn 600 cán bộ, chiến sĩ của đơn vị A101 kiên cường chiến đấu dưới mưa bom bão đạn của địch trong chiến lược “tát nước bắt cá”, tức tách dân khỏi các lực lượng trực tiếp và hỗ trợ chiến đấu, dồn hết người dân trong vùng vào ấp chiến lược, nhà nào còn trong vùng đều bị coi là “cộng sản” và tiến hành hủy diệt hết. Mỗi khi nhận được chỉ thị của Trung ương về việc tiếp nhận tàu từ miền Bắc vào, các lực lượng, từ ban chỉ huy cho đến các cán bộ, chiến sĩ đều muôn người như một, bất chấp hiểm nguy, nóng lòng chờ đợi và chung tay đón nhận, cất giấu, vận chuyển vũ khí. Chính sự đồng lòng, quân dân cá nước, chỉ có chưa tới 5% lượng vũ khí, vật chất bị thất thoát tại đơn vị A101-bến Bến Tre.

Cảm động nhất là đợt tiếp nhận đầu tiên vào tháng 6/1963, khi nhận được chỉ thị đón tàu từ miền Bắc vào, niềm vui của cán bộ, chiến sĩ đơn vị A101 trào dâng khôn xiết “như nắng hạn gặp mưa rào”. Ông Phạm Văn Xê, một cựu binh từng trực tiếp tham gia tiếp nhận, hiện ngụ tại xã Thạnh Phong chia sẻ: Niềm vui xen lẫn với lo lắng vì đây là chuyến tiếp nhận đầu tiên, nếu không làm tròn là có tội với Đảng, với Tổ quốc, nhân dân và càng có tội với những đồng đội đã hi sinh. Lúc bấy giờ, địch tăng cường kiểm tra, kiểm soát, nên con tàu sắt lớn, vững chắc lần đầu tiên của miền Bắc xã hội chủ nghĩa chở vũ khí cập bến Bến Tre trễ hơn 10 ngày so với dự kiến. Đây là khoảng thời gian vô cùng căng thẳng đối với cán bộ, chiến sĩ cũng như người dân tại bến Bến Tre. Nhiều chị, nhiều mẹ đã ngâm mình dưới nước hàng tuần để theo dõi hoạt động tuần tra, canh gác của địch. Đúng 10 giờ ngày 17/6/1963, chuyến tàu đầu tiên này cập bến và chỉ sau 2 đêm, gần 100 tấn vũ khí, hàng hóa đã được bốc lên cất giấu, bảo quản an toàn.

Trong thời gian từ tháng 6/1963 đến 11/1970, có 26 chuyến tàu xuất phát từ bến Bến Tre và có 23 chuyến trở về đầy ắp vũ khí, gần 400 lượt cán bộ, chiến sĩ trực tiếp tham gia đoàn tàu và hơn 600 cán bộ, chiến sĩ tham gia công tác tiếp nhận, vận chuyển, cất giấu; hơn 600 lượt thuyền vận chuyển vũ khí đã được tổ chức trong đêm tối; hơn 200 cán bộ, chiến sĩ của đơn vị đã hy sinh. Cũng trong thời gian này, quân dân ta đã giành được nhiều chiến thắng lớn trong sự ngạc nhiên, khiếp sợ của kẻ thù như: Chiến thắng Ấp Bắc (1/1963), bẻ gãy các trận càn “Phượng Hoàng TG-1” (12/1963), cuộc hành quân “Phượng Hoàng” (2/1966) và Sóng Thần 5 (1/1967)...

Những chiến công thầm lặng của đơn vị A101 - bến Bến Tre đã góp phần cho thắng lợi chung của toàn dân tộc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Khu vực đơn vị đứng chân là xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú đã được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia.

Viết Ý - Hưng Thịnh

Kỳ cuối: 50 năm bản hùng ca