Người dân ven biển thay đổi cách làm để giảm thiệt hại do bão lũ

Sau một mùa bão lũ khiến nhiều hộ nuôi tôm hùm mất trắng vốn liếng, người dân ven biển đã bắt đầu thay đổi cách làm để tự bảo vệ mình trước những diễn biến thời tiết khó lường.

Sau những thiệt hại do bão lũ và nước ngọt từ thượng nguồn, người nuôi tôm hùm ở phường Sông Cầu, tỉnh Đắk Lắk chủ động thay đổi cách thức sản xuất để giảm rủi ro trước thời tiết cực đoan.
Sau những thiệt hại do bão lũ và nước ngọt từ thượng nguồn, người nuôi tôm hùm ở phường Sông Cầu, tỉnh Đắk Lắk chủ động thay đổi cách thức sản xuất để giảm rủi ro trước thời tiết cực đoan.

Từ hạ lồng tôm xuống sát đáy biển, chuẩn bị phương tiện cứu hộ, điều tiết dòng nước đến phục hồi rừng ngập mặn và chuyển hướng làm du lịch, những cách thích ứng đang dần hình thành, giúp cộng đồng giảm thiệt hại và tìm kiếm sinh kế phù hợp hơn với điều kiện tự nhiên.

Tư duy chủ động trước thiên tai

Tại phường Sông Cầu, tỉnh Đắk Lắk, mùa lũ năm trước vẫn là ký ức nặng nề đối với nhiều hộ nuôi tôm hùm. Sau bão, lượng nước ngọt lớn từ thượng nguồn đổ về kéo dài nhiều ngày, khiến tôm chết hàng loạt, nhiều gia đình mất đi tài sản tích lũy qua nhiều năm.

Ngư dân Nguyễn Văn Lai, ở khu dân phố Vạn Hòa, phường Sông Cầu, nhớ lại gia đình đã mất hàng tỷ đồng sau đợt thiên tai. Với người nuôi tôm, thiệt hại không chỉ đến từ bão làm hư hỏng lồng bè mà còn từ sự thay đổi đột ngột của môi trường nước sau bão, khi dòng nước ngọt từ thượng nguồn đổ ra vùng nuôi.

Hộ nuôi tôm Nguyễn Hữu Lộc cũng chịu thiệt hại khoảng 98% số tôm trong vụ nuôi trước. Tuy nhiên, từ những tổn thất ấy, người dân đã rút ra kinh nghiệm để thay đổi cách sản xuất. Khi có dự báo mưa lớn kéo dài, họ chủ động theo dõi thời tiết, điều chỉnh lồng nuôi xuống sâu, sát đáy biển nhằm hạn chế tác động của lớp nước ngọt phía trên. Ông Lai đã thả lứa tôm mới và chủ động hạ lồng nuôi ngay từ đầu mùa. Gia đình ông cũng đã xuất bán lứa tôm đầu tiên, từng bước khôi phục nguồn vốn sau thiệt hại. Sự trở lại của các hộ nuôi không có nghĩa rủi ro đã hết, nhưng cho thấy kinh nghiệm từ thiên tai đang được chuyển thành hành động cụ thể.

Thiếu tá Lê Thanh Kiệt, Phó Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự phường Sông Cầu, cho biết ý thức bảo vệ tài sản và tính mạng của người dân đã được nâng lên qua các mùa mưa bão. Lực lượng chức năng phối hợp với công an và các tổ dân phố tuyên truyền, hỗ trợ người dân chằng chống nhà cửa, đưa ghe thuyền lên bờ; đồng thời tổ chức diễn tập phòng thủ dân sự để rà soát, hoàn thiện phương án ứng phó. Ở khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của lũ, việc chuẩn bị trước càng có ý nghĩa quan trọng. Tại xã Phú Hòa 1, tỉnh Đắk Lắk, những căn nhà sinh hoạt cộng đồng kết hợp phòng tránh lũ được đầu tư kiên cố, tạo thêm nơi tránh trú cho người dân ở vùng trũng thấp.

Bên cạnh các nhà tránh lũ cộng đồng, những ngôi nhà cao tầng của người dân trong các khu vực trũng thấp cũng được lựa chọn làm địa điểm tránh lũ và được cung cấp sẵn các dụng cụ, nhu yếu phẩm cần thiết trước mỗi mùa mưa bão.
Bên cạnh các nhà tránh lũ cộng đồng, những ngôi nhà cao tầng của người dân trong các khu vực trũng thấp cũng được lựa chọn làm địa điểm tránh lũ và được cung cấp sẵn các dụng cụ, nhu yếu phẩm cần thiết trước mỗi mùa mưa bão.

Ông Phạm Văn Sách, người dân thôn Đông Lộc, cho biết trong trận lũ năm trước, nước dâng ngập nhà từ 1 đến 1,5 m. Việc có nhà sinh hoạt cộng đồng kết hợp phòng tránh lũ giúp người dân yên tâm hơn khi mùa mưa đến, nhất là khi công trình được bổ sung phương tiện cứu hộ và lực lượng túc trực tại địa bàn. Tại thôn Đông Lộc, nơi có hơn 1.374 hộ với khoảng 4.800 nhân khẩu, ban quản lý ngập lụt được thành lập; người có kinh nghiệm sử dụng ghe, thuyền được phân công sẵn sàng hỗ trợ di dời dân, trong khi mì tôm, nước uống và vật dụng thiết yếu được chuẩn bị trước. Ca nô, xuồng máy, áo phao cũng được tập kết để có thể triển khai khi giao thông bị chia cắt.

Trung tá Hà Mạnh Phương, Chính trị viên phó Ban Chỉ huy Quân sự xã Phú Hòa 1, cho biết phương án ứng phó được xây dựng theo hướng lựa chọn trước nhà cao tầng kiên cố của người dân và nhà cộng đồng làm nơi sơ tán, thay vì đợi nước dâng mới bắt đầu di chuyển. Cách làm này giúp rút ngắn thời gian phản ứng, giảm nguy cơ người dân bị cô lập khi lũ lên nhanh. Từ vùng hạ du, yêu cầu chủ động ứng phó còn đặt ra ở khâu quản lý dòng nước trên thượng nguồn sông Ba. Hồ thủy điện Sông Ba Hạ có dung tích khoảng 349 triệu m³, giữ vai trò quan trọng trong điều tiết dòng chảy trên lưu vực. Cùng với theo dõi mực nước và quy trình vận hành, hệ thống cảnh báo được triển khai để thông tin đến khu vực hạ du khi có tình huống cần điều tiết.

Theo bộ phận kỹ thuật trực vận hành đập thủy điện Sông Ba Hạ, hệ thống gồm 13 trạm hú còi cảnh báo dọc sông Ba, giúp chính quyền và người dân nhận biết thông tin để chủ động ứng phó. Việc vận hành hồ chứa, cảnh báo và chuẩn bị phương tiện tại cơ sở cần được phối hợp chặt chẽ, bởi rủi ro ở thượng nguồn có thể tác động trực tiếp đến đời sống, sản xuất của người dân phía dưới. Tại tỉnh Khánh Hòa, một hướng thích ứng khác được thực hiện từ việc phục hồi hệ sinh thái ven biển. Ở khu vực Mỹ Hòa, xã Vĩnh Hải, rừng đước được cộng đồng phối hợp với Vườn quốc gia Núi Chúa khôi phục, trồng dặm trong nhiều năm. Theo ông Nguyễn Văn Bổn, tình nguyện viên đội bảo vệ rừng ngập mặn, cây đước phải được trồng đủ sâu trong bùn để bộ rễ bám chắc, hạn chế bị sóng đánh bật gốc và cần dọn dẹp, vệ sinh rác bám vào rễ cây mỗi đợt nước lên để cây sống khỏe.

Ông Phạm Văn Xiêm, Trưởng phòng Quản lý Tài nguyên và Dự trữ sinh quyển, Ban Quản lý Vườn quốc gia Núi Chúa, cho biết việc khôi phục, trồng dặm rừng ngập mặn Mỹ Hòa được thực hiện từ năm 2005. Cùng với phục hồi rừng, đơn vị hỗ trợ ngao giống để người dân nuôi dưới tán đước. Mô hình này vừa tạo thêm thu nhập, vừa khuyến khích cộng đồng tham gia bảo vệ hệ sinh thái ven biển. Từ những lồng tôm được hạ thấp trước khi mưa lớn, nhà tránh lũ và phương tiện cứu hộ được chuẩn bị sẵn, đến hệ thống cảnh báo trên sông và những cánh rừng đước được phục hồi, điểm chung là chuyển từ phản ứng sau thiệt hại sang chủ động giảm rủi ro. Tuy nhiên, để thích ứng lâu dài, cộng đồng không chỉ cần giảm thiệt hại khi thiên tai xảy ra mà còn phải tìm cách ổn định cuộc sống, đa dạng hóa sinh kế và hạn chế sự phụ thuộc vào những hoạt động sản xuất dễ tổn thương.

Thay đổi sinh kế để thích ứng lâu dài

Tại xã Vĩnh Hải, tỉnh Khánh Hòa, nắng, gió và địa hình ven biển đặc trưng đang trở thành lợi thế phát triển du lịch. Khu vực Mỹ Hòa nằm dưới chân núi đá, gần Vườn quốc gia Núi Chúa, có cảnh quan khô hạn, núi đá và biển tạo nên nét riêng. Những luồng gió biển cũng thu hút người chơi lướt ván diều, trong đó có du khách quốc tế. Nhận thấy cơ hội, một số hộ dân đã chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang kinh doanh lưu trú. Chủ một homestay tại khu vực này cho biết, trước đây gia đình chủ yếu trồng hành, tỏi ở Thái An. Sau khi nhận thấy lợi thế cảnh quan và địa hình nơi chân núi đá, gia đình quyết định đầu tư homestay để đón khách.

Ca nô, xuồng máy và áo phao được đưa về cơ sở, sẵn sàng tiếp cận các khu dân cư khi xảy ra ngập lụt, chia cắt.
Ca nô, xuồng máy và áo phao được đưa về cơ sở, sẵn sàng tiếp cận các khu dân cư khi xảy ra ngập lụt, chia cắt.

Sự chuyển đổi không đơn thuần là thay một nghề bằng nghề khác. Đó là cách người dân tận dụng điều kiện tự nhiên sẵn có để mở rộng nguồn thu, giảm phụ thuộc vào một hoạt động sản xuất. Với khu vực có cảnh quan đặc trưng như Vườn quốc gia Núi Chúa, phát triển du lịch cũng đặt ra yêu cầu bảo vệ môi trường, gìn giữ hệ sinh thái để lợi thế này không bị suy giảm bởi khai thác thiếu kiểm soát.

Ở Mỹ Hòa, mô hình phục hồi rừng đước kết hợp nuôi ngao cho thấy sinh kế và bảo tồn có thể hỗ trợ lẫn nhau. Bà Nguyễn Thị Vĩnh, người dân địa phương, cho biết trước đây nguồn ngao bản địa từng suy giảm do khai thác quá mức. Khi rừng được phục hồi và người dân được hỗ trợ ngao giống để nuôi dưới tán đước, nguồn lợi thủy sản dần được cải thiện. Người dân có thêm thu nhập, đồng thời có động lực cùng nhau giữ rừng.

Tại khu vực Bỉnh Nghĩa, xã Ninh Hải, tỉnh Khánh Hòa, việc ứng dụng kiến thức khoa học và công nghệ vào sản xuất giống thủy sản cũng mở ra hướng nâng cao hiệu quả nghề truyền thống. Ông Thành Văn Kỷ, cán bộ kỹ thuật tại một cơ sở sản xuất hàu giống, cho biết lớp trẻ đang đưa kiến thức chuyên môn, kỹ thuật và cách tổ chức sản xuất bài bản hơn vào hoạt động của cơ sở, góp phần cải thiện năng suất và khả năng thích ứng trước biến động môi trường.

Trong khi đó, tại phường Sông Cầu, tỉnh Đắk Lắk, một số hộ từng nuôi tôm hùm đã chuyển sang kinh doanh homestay, dịch vụ du lịch ven biển. Với những gia đình có nguồn vốn hạn chế, nghề nuôi thủy sản có thể đem lại thu nhập nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ mất trắng khi bão lớn hoặc môi trường nước biến động. Chuyển sang du lịch không loại bỏ hoàn toàn rủi ro, bởi bão lũ vẫn có thể làm hư hại công trình, khiến hoạt động kinh doanh gián đoạn. Tuy vậy, việc thay đổi sinh kế giúp các hộ có thêm lựa chọn thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào một vụ nuôi.

Tại các điểm đến ven biển tỉnh Đắk Lắk, cảnh quan tự nhiên như gành Đèn, gành Đá Đĩa và khu vực Mũi Đại Lãnh (Mũi Điện), đang tạo thêm cơ hội phát triển du lịch. Người làm du lịch tận dụng mạng xã hội để quảng bá điểm đến, thu hút du khách và tạo nguồn thu cho cộng đồng. Song, cùng với phát triển dịch vụ, việc giữ gìn cảnh quan và môi trường vẫn là điều kiện quan trọng để sinh kế dựa vào du lịch có thể duy trì lâu dài.

Ngay sau thiệt hại lớn từ mùa mưa bão năm 2025, người dân tại phường Sông Cầu, tỉnh Đắk Lắk đã nhanh chóng xuống tôm giống trở lại để kịp thời thu hoạch trước mùa mưa bão.
Ngay sau thiệt hại lớn từ mùa mưa bão năm 2025, người dân tại phường Sông Cầu, tỉnh Đắk Lắk đã nhanh chóng xuống tôm giống trở lại để kịp thời thu hoạch trước mùa mưa bão.

Những mô hình tại Đắk Lắk và Khánh Hòa cho thấy không có một cách thích ứng chung cho mọi địa bàn. Với người nuôi tôm, đó có thể là điều chỉnh cách đặt lồng và theo dõi thời tiết. Với vùng thường xuyên ngập lụt, đó là chuẩn bị nơi tránh trú, phương tiện và lực lượng cứu hộ. Với cộng đồng ven biển, đó có thể là phục hồi hệ sinh thái, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào nghề truyền thống hoặc chuyển hướng sang dịch vụ du lịch.

Bài và ảnh: Xuân Quý/TTXVN

Dành cho bạn