Chỉ với hơn 100 hộ vỏn vẹn gần 300 người, người BRâu được xem là một trong những dân tộc ít người nhất nước ta hiện nay, tập trung chủ yếu tại làng Đắk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, Kon Tum. Tuy nhiên, với phong tục đặc sắc của mình, người BRâu hiện vẫn còn lưu giữ những nét văn hóa riêng biệt hiếm thấy trên đất nước ta, đó là những hình xăm trên mặt và lỗ tai căng rộng.
Để tìm hiểu về phong tục tập quán nơi đây, dò hỏi mãi chúng tôi may mắn được một cậu bé trong làng Đắk Mế dẫn tới nhà cụ Nàng Nang (96 tuổi) là người cuối cùng ở đây vẫn còn giữ được trên cơ thể mình những nét văn hóa đặc sắc, hiếm thấy “vang bóng một thời” của núi rừng Tây Nguyên.
Đó là một ngôi nhà gỗ nhỏ, bám dọc theo con đường đất đỏ um tùm cỏ dại, vách ván thấp lè tè, tầng mái đã xỉn màu, có pha đôi chút “hiện đại hóa” bởi vách tường gạch xây trát vữa đã nứt toác nhiều chỗ... Thấy có khách là người Kinh muốn đến tìm hiểu những phong tục “lạ” của dân tộc mình nhưng lại không hiểu tiếng BRâu, nên chúng tôi phải chờ người cháu gái của cụ tên là Nàng Tíu làm phiên dịch cho cuộc trò chuyện đầy thú vị này.
Cụ Nàng Nang với đôi tai kéo dài, một trong những “ dấu xưa còn lại” của người BRâu. |
Được xem là một trong những người thuộc thế hệ đầu tiên sáng lập ra là Đắk Mế cho người BRâu định cư lâu dài tại đây, nên cụ Nàng Nang được người dân trong bản hết sức kính trọng, bất cứ lễ tiệc, ma chay gì của làng cụ cũng là người được ưu tiên mời đầu tiên. Thoáng nhìn nét mặt cụ, mặc dù đã in hằn nếp nhăn của thời gian nhưng vẫn không khó để thấy những vết xăm rõ nét với những đường uốn lượn kỳ lạ một cách độc đáo, hai bên dái tai của cụ được kéo dài hơn 15 cm do mang phải vật nặng trong suốt một thời gian dài... khiến những người mới gặp lần đầu không khỏi ngạc nhiên. Thấy sự tò mò của khách, cụ Nàng Nang mỉm cười nói: “Mấy anh thấy lạ lắm hả? Ừ, uống hết cốc nước này đi rồi già kể cho nghe...”.
Chúng tôi chăm chú lắng nghe lời nói của cụ bằng tiếng BRâu hết sức lạ tai (được phiên dịch bằng tiếng Kinh của Nàng Tíu) trong sự hiếu kỳ như những đứa cháu lắng nghe bà nội kể chuyện ngày xửa, ngày xưa...
Người BRâu có lịch sử xuất phát từ vùng nam Lào và đông bắc Campuchia, nhập cư vào Việt Nam đã trên dưới 200 năm. Đến đời cụ Nàng Nang là đời thứ 5, được sinh ra trong một gia đình khá giả lúc bấy giờ, nên cụ Nàng Nang may mắn được gia đình thực hiện đầy đủ nét văn hóa “đáng mơ ước” của những người thiếu nữ BRâu lúc bấy giờ.
Ngay từ lúc nhỏ, để giúp cho con gái có nét mặt đẹp về sau, cụ được gia đình cho xăm những nét vẽ ngoằn ngoèo trên mặt tùy theo ý thích và quan niệm của mỗi người, đây là một việc làm khá tốn kém không phải nhà nào lúc bấy giờ cũng muốn là làm được. Chính vì thế những nét xăm này không những làm tôn thêm vẻ đẹp của người con gái BRâu mà còn biểu hiện cho sự giàu có phồn vinh, đặc biệt là những người làm thuê dù có đủ tiền cũng không được phép xăm mặt, nếu không sẽ bị phạt theo lệ của làng.
Trẻ em BRâu bên ngôi nhà rông vừa mới dựng. |
“Hình xăm này mẹ tôi phải kỳ công lắm để kiếm được mực xăm tốt nhất và thuê thợ ở bên Lào về vẽ đó”, cụ Nàng Nang vừa đưa tay chỉ lên mặt, vừa kể một cách tự hào. Theo quan sát của chúng tôi, đó là một đường kẻ dài nối liền hai bên thái dương, giữa trán có hình hai lá cờ bắt chéo, hai bên là những chấm đen li ti trông rất bắt mắt. Để xăm đúng hình mình thích, người BRâu phải vào rừng sâu tìm một loại cây quý lấy vỏ về ngâm nước, sau đó giã vỏ cây đó chế thành mực xăm. Khi đã có mực, họ mới lấy kim châm lên da theo hình mẫu. “Xăm xong, sau 3 ngày mới được tắm. Và phải chờ cho tới khi vết xăm kín miệng mới được đụng vào nước”, cụ Nàng Nang cho biết thêm.
Song song với tục xăm mặt, người con gái BRâu còn có cách làm đẹp bằng tục căng tai. Họ quan niệm lỗ tai càng được căng rộng thì càng được bạn tình ưa thích và sớm có được người mình yêu, đồng thời nó thể hiện trong nhà mình có nhiều chiêng ché, vàng, bạc là hàng “danh gia vọng tộc” từ nhiều đời. Ban đầu, người ta chỉ dùi vào dái tai một lỗ nhỏ xíu rồi luồn vào đó một cọng tre hay một thẻ gỗ nhỏ. Thế rồi mỗi ngày, họ lại thay dần vào lỗ thủng đó một cọng tre lớn hơn kèm theo những vật nặng bằng sắt, đá, đồng có thể đeo được, cứ thế, lỗ ở dái tai cứ rộng dần. Đến tuổi trưởng thành, lỗ thủng đó có thể lấy một khúc ngà xuyên qua được. Đang kể, cụ Nàng Nang bỗng phả khói thuốc, móm mém cười: “Đến giờ lỗ tai tôi có thể vắt qua cằm được rồi đó”.
Một phong tục độc đáo nữa của người BRâu đó là tục “cà răng”, nó gần giống với việc nhuộm răng như ở dưới xuôi nhưng có phần biến tấu và khắc nghiệt hơn nhiều. Theo quan niệm của họ, việc cà răng căng tai là để gái trai đến tuổi cập kê tiến đến hôn nhân một cách thuận lợi. Với họ, một người đẹp không phải là có hàm răng đều đặn, trắng ngà mà là hàm răng phải được mài nhẵn cho đến tận lợi. Con trai, con gái người BRâu muốn cà răng phải được sự cho phép của già làng. Dụng cụ mài răng thông thường bằng đá, sau đó lấy nhựa cây rừng làm thuốc ngậm đến khi nào chiếc răng trở nên đen bóng thì xem như việc cà răng thành công. Cụ Nàng Nang trầm ngâm: “Ngày xưa, mỗi lần nấu bếp có chất nước đen từ củi chảy ra là mẹ lại lấy bôi lên răng của mình. Nhiều lần như thế, hàm răng của mẹ đen bóng và đẹp lắm”. Dấu tích còn lại của tục cà răng vẫn còn hiện rõ, hàm răng của cụ chỉ còn lại những chân răng ngắn ngủn, như “chứng tích” của một thời sơn nữ…
Bên cạnh đó, cũng như nhiều vùng dân tộc khác, việc làm đẹp và thể hiện sự giàu sang và quyền lực của người BRâu còn thể hiện qua việc đeo nhiều đồ trang sức bằng kim loại: Vòng, khuyên tai, nhẫn, khăn... Những phong tục một thời được xem là hoàng kim, đến nay trong bản ngoài cụ Nàng Nang ra chẳng còn ai có được những chứng tích một thời “đáng tự hào” đó nữa. Như hiểu được điều đó, đang say sưa kể chuyện, cụ bỗng thở dài nói: “Bây giờ cuộc sống hiện đại còn ai cà răng, xăm mặt, căng tai nữa đâu, cái đó không tốt, bỏ đi rồi”.
Hiện nay cuộc sống ngày càng hiện đại, người BRâu cũng không còn cảnh “nay chỗ này, mai đi chỗ khác”, con em đã được đến trường đầy đủ để học lấy cái chữ. Tuy nhiên, bên cạnh đó không những cụ Nàng Nang mà nhiều người khác cũng băn khoăn, liệu khi một mai những người như cụ trở thành “thiên cổ”, liệu những luật tục thú vị và bản sắc độc đáo về văn hóa của dân tộc trên có còn hay chỉ thấp thoáng qua từng trang sách, quyển vở và biến mất dần qua dòng thời gian đầy biến đổi và khắc nghiệt...
Nguyễn Tiến Nhất