Ngành vận tải biển Indonesia thua lỗ gần 822 triệu USD

Một nghiên cứu của Viện Công nghệ ITS ở thành phố Surabaya cho thấy ngành vận tải biển của Indonesia đã ghi nhận khoản lỗ 12.200 tỷ rupiah (821,9 triệu USD) trong nửa đầu năm nay do nhu cầu đi lại của hành khách sụt giảm xuống trong bối cảnh chính phủ áp đặt các lệnh hạn chế nhằm ngăn chặn đại dịch COVID-19 lây lan.
Chú thích ảnh
Phun thuốc khử trùng nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch COVID-19 tại Yogyakarta, Indonesia ngày 10/9/2020. Ảnh: THX/TTXVN

Nghiên cứu của ITS đánh giá các tác động đối với lĩnh vực vận tải biển từ lệnh cấm người dân trở về quê (mudik) trong khoảng thời gian từ 24/4 đến 1/6 trong kỳ nghỉ lễ xả chay Idul Fitri. Lệnh cấm này do Bộ Giao thông Vận tải áp đặt như một phần trong các các nỗ lực của Chính phủ Indonesia nhằm ngăn chặn sự lây lan của đại dịch COVID-19.

Các thiệt hại trên bao gồm khoản thất thu 862 tỷ rupiah của công ty vận tải nhà nước PT Pelni và 44 tỷ rupiah của các công ty phà hoạt động giữa các hòn đảo như tuyến phà Merak-Bakauheni kết nối giữa các tỉnh Banten và Lampung, tuyến phà Ketapang-Gilimanuk giữa tỉnh Đông Java và tỉnh Bali.

Phát biểu tại một hội thảo trực tuyến do Bộ Giao thông Vận tải tổ chức tuần qua, Viện trưởng ITS, ông Mochamad Ashari, cho biết lĩnh vực vận tải biển đã ghi nhận sự sụt giảm mạnh về lượng hành khách trong thời gian đại dịch, nhất là trên tuyến Merak-Bakauheni với lượng sụt giảm lên tới 80-95%.

Theo Cơ quan Thống kê Indonesia (BPS), sự sụt giảm trong các hoạt động kinh doanh của ngành giao thông vận tải trong quý II vừa qua đã góp phần kéo giảm 5,32% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) so với cùng kỳ năm trước. Số liệu của BPS cũng cho thấy lĩnh vực vận tải và kho bãi sụt giảm tới 30,84%, trong khi hoạt động vận tải biển giảm 17,48% so với cùng kỳ năm ngoái.

Nhà nghiên cứu Ardi Adji của ITS đánh giá rằng sự sụt giảm của lĩnh vực vận tải biển đã gây tác động đến các nền kinh tế địa phương, trong đó tỉnh Bali chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Theo ông Ardi, Bali phụ thuộc rất lớn vào lĩnh vực du lịch và lượng khách du lịch bằng đường biển. Do đó, sự sụt giảm trong lĩnh vực này đã khiến GDP của hòn đảo này thiệt hại tới 824 tỷ rupiah. Ông Ardi đề nghị Chính phủ cung cấp các biện pháp hỗ trợ tài chính như hỗ trợ lãi suất và hoãn nợ dành cho các hãng tàu nhằm giảm bớt tác động kinh tế của cuộc khủng hoảng COVID-19.

Về phần mình, bà Carmelita Hartoto, Chủ tịch Hiệp hội Chủ tàu Indonesia (INSA), cho biết hiện Chính phủ vẫn chưa phản hồi đề nghị của Hiệp hội này về việc miễn giảm thuế, đồng thời nói thêm rằng các doanh nghiệp thành viên của INSA khó có thể duy trì hoạt động nếu nền kinh tế tiếp tục đi xuống, dẫn đến làn sóng sa thải lao động hàng loạt.

Cũng phát biểu tại hội thảo trên, ông Erick Thohir, Bộ trưởng Doanh nghiệp Nhà nước kiêm Chủ tịch Ủy ban xử lý COVID-19 và phục hồi kinh tế quốc gia, cam kết rằng Chính phủ sẽ duy trì các gói kích thích tới năm sau nhằm thúc đẩy nền kinh tế.

Trước đó, Chính phủ Indonesia đã phân bổ 695.200 tỷ rupiah nhằm kích thích nền kinh tế, tập trung vào các chương trình chăm sóc y tế, bảo trợ xã hội và phục hồi kinh tế. Tuy nhiên, 6 tháng sau khi đại dịch bùng phát, hiện gói ngân sách này mới chỉ giải ngân được 34,1%, tương đương với 237.000 tỷ rupiah.

Hữu Chiến - P/v TTXVN tại Jakarta

Dành cho bạn

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài cuối: Những tuyến đường đến các cực tăng trưởng mới

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài cuối: Những tuyến đường đến các cực tăng trưởng mới

Cao tốc, sân bay và cảng biển tạo lợi thế tiếp cận, nhưng dòng vốn chỉ ở lại nơi có đất sạch, điện, nước, nhân lực, môi trường và thủ tục đủ tin cậy. Từ Vân Phong, Nhơn Hội, Buôn Ma Thuột đến Liên Chiểu và các đô thị dọc cao tốc Lâm Đồng, miền Trung - Tây Nguyên đang hình thành nhiều điểm hội tụ mới. Thách thức là biến các dự án riêng lẻ thành hệ sinh thái và phân chia lợi ích liên vùng.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Hạ tầng có thể rút ngắn một chuyến xe, nhưng chưa chắc nâng giá trị một tấn nông sản. Giá trị chỉ tăng khi vùng nguyên liệu được số hóa, sản phẩm được bảo quản, chế biến, kiểm định và bán bằng thương hiệu của mình. Từ cà phê, sầu riêng ở Đắk Lắk, rau hoa và trái cây Lâm Đồng đến dữ liệu di sản Huế, chuỗi giá trị mới đang đòi hỏi hạ tầng rộng hơn đường sá: hạ tầng số, tiêu chuẩn và năng lực sáng tạo.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Miền Trung có chuỗi cảng nước sâu trải dọc bờ biển, còn phía Tây là vùng sản xuất rộng lớn nối sang Lào và Campuchia nhưng một cầu cảng lớn không mặc nhiên có nguồn hàng, cũng như một tuyến cao tốc chưa chắc tạo nên hành lang kinh tế. Cuộc cạnh tranh mới nằm ở năng lực tổ chức hậu phương cảng, vận tải đa phương thức và hệ sinh thái dịch vụ giữ hàng hóa ở lại lâu hơn.