Đại diện Cục Viễn thông cho biết, kết quả đo kiểm này phản ánh chất lượng các chỉ tiêu kỹ thuật trong vùng lõi của địa bàn trong thời gian đo kiểm và các chỉ tiêu chất lượng kỹ thuật được xác định theo quy định tại quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 81:2014/BTTTT.
Theo kết quả đo kiểm, chỉ số tốc độ mạng 4G của nhà mạng MobiFone đạt kết quả cao nhất dựa trên các chỉ số tải dữ liệu lên và xuống mà Cục Viễn thông công bố.
Trong khi đó, tốc độ tải dữ liệu xuống trung bình của mạng Viettel là 34,90 Mbit/s và tốc độ tải dữ liệu lên trung bình là 16,88Mbit/s. Chỉ số, thời gian trễ truy nhập dịch vụ 4G trung bình theo tiêu chuẩn phải dưới 5 giây thì chỉ số này của Viettel là 1,83 giây. Hai chỉ số độ sẵn sàng và tỷ lệ truy nhập thành công dịch vụ mạng 4G của Viettel đạt 100% trong khi đó Bộ Thông tin và Truyền thông yêu cầu là từ 95% trở lên.
Chỉ số về độ tải dữ liệu lên, xuống trung bình và thời gian trễ truy nhập dịch vụ trung bình dịch vụ 4G số rất quan trọng, liên quan đến tốc độ mạng 4G.
Ngày 27/7/2017, Tập đoàn Dữ liệu quốc ttế IDG đã công bố kết quả “Cuộc khảo sát đánh giá mức độ hài lòng của người tiêu dùng về nhà mạng cung cấp dịch vụ 4G tại Việt Nam năm 2017”.
Theo ý kiến của nhiều chuyên gia công nghệ thông tin và viễn thông, để nâng cao tốc độ dịch vụ viễn thông nói chung và mạng 4G nói riêng, cần nhiều yếu tố như số lượng người dùng trên một địa điểm, chiến lược và việc đầu tư hạ tầng của nhà mạng, tối ưu của nhà mạng…
Tại Việt Nam, để phát triển 4G, mỗi nhà mạng đều xây dựng một chiến lược để cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần, trong đó các nhà mạng tập trung xây dựng hạ tầng cả 3G và 4G. Có nhà mạng tập trung phủ sóng 4G với chất lượng tốt ở các khu đô thị nơi có nhu cầu lớn, sau đó mới phủ sóng đến vùng nông thôn nơi vẫn đang được phủ kín 3G.
Mới đây, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng đã nhấn mạnh chỉ đạo của Thủ tướng với các nhà mạng là phải đảm bảo chất lượng khi cung cấp dịch vụ 4G. Thủ tướng khuyến cáo nhà mạng đã cung cấp 4G phải đúng là 4G chứ không phải là 3G+...