Mở hướng khai thác sinh khối cho công nghiệp xanh từ kinh nghiệm quốc tế

Phụ phẩm nông nghiệp, thủy sản và chất thải hữu cơ có thể cung cấp đầu vào cho sản xuất năng lượng và vật liệu. Để khai thác nguồn sinh khối này, doanh nghiệp cần lựa chọn công nghệ phù hợp, tổ chức nguồn nguyên liệu và kiểm chứng hiệu quả trước khi mở rộng đầu tư.

baotintuc_tr_hoi-nghi-quoc-te-7102.jpg
Quang cảnh Hội nghị.

Tìm giá trị từ phụ phẩm và chất thải hữu cơ

Chất thải thực phẩm, phụ phẩm từ cá và rong biển được ông Gopalakrishnan Kumar, Giáo sư ngành Kỹ thuật môi trường, Đại học Stavanger (Na Uy) giới thiệu trong phần trình bày về kinh tế sinh học tại Hội nghị quốc tế và phiên họp thường niên lần thứ 18 của Bàn tròn châu Á - Thái Bình Dương về Sản xuất và Tiêu dùng bền vững (APRSCP) ở TP Hồ Chí Minh. Những nguồn sinh khối này mở ra khả năng sản xuất năng lượng, vật liệu và các sản phẩm có giá trị.

Từ kinh nghiệm quốc tế, chuyên gia đặt vấn đề Việt Nam có thể lựa chọn những hướng công nghệ nào để khai thác nguồn nguyên liệu sẵn có. Thách thức nằm ở khả năng đưa công nghệ vào điều kiện sản xuất cụ thể, xây dựng lộ trình đầu tư và tận dụng được giá trị của sinh khối.

Theo GS. Gopalakrishnan Kumar, các nền kinh tế đang phát triển chịu sức ép chuyển đổi nhanh trong khi nguồn lực và khả năng làm chủ công nghệ còn khác nhau. Việc học hỏi những giải pháp đã được kiểm chứng ở nước khác có thể giúp rút ngắn quá trình tìm kiếm hướng đi. Tuy nhiên, lựa chọn áp dụng phải phù hợp với điều kiện thực tế.

Ông chia sẻ mô hình nhà máy lọc sinh học, tích hợp các quá trình chuyển đổi sinh khối. Cách tiếp cận này xem xét khả năng khai thác nguyên liệu sinh học cho nhiều mục đích, từ năng lượng đến vật liệu và những sản phẩm có giá trị khác.

Từ các nguồn sinh khối được quan tâm tại Na Uy như chất thải thực phẩm, phụ phẩm thủy sản và sinh khối biển, chuyên gia gợi mở khả năng nghiên cứu tại Việt Nam dựa trên hoạt động nông nghiệp, chế biến thủy sản và điều kiện phát triển kinh tế biển. Những hướng công nghệ được giới thiệu gồm sản xuất khí sinh học, nghiên cứu protein đơn bào và lọc sinh học từ rong biển. Việc lựa chọn ứng dụng cần được đánh giá theo đặc điểm nguyên liệu và điều kiện sản xuất.

hoi-nghi-quoc-te-261026.jpg
Ông Gopalakrishnan Kumar, Giáo sư ngành Kỹ thuật môi trường, Đại học Stavanger (Na Uy), chia sẻ tại hội nghị.

Có nguồn phụ phẩm là điều kiện ban đầu. Để phát triển thành phương án sản xuất, doanh nghiệp cần xác định quy trình chuyển đổi và nhu cầu sử dụng sản phẩm. Đây là cơ sở lựa chọn công nghệ, tính toán nguồn lực và xây dựng lộ trình đầu tư.

Quá trình chuyển đổi cần có lộ trình theo từng giai đoạn. Các bên phải xác định năng lực hiện tại, những điều kiện cần bổ sung và mục tiêu có thể thực hiện trước khi mở rộng. Cách triển khai này giúp doanh nghiệp tận dụng nguồn lực sẵn có và chuẩn bị cho bước đầu tư tiếp theo.

Để giải quyết bài toán này, doanh nghiệp cần phối hợp với cơ sở nghiên cứu ngay từ khâu xác định nhu cầu. Ông Hoàng Văn Tâm, Trưởng Phòng Tổng hợp Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số (Bộ Công Thương), đề nghị thúc đẩy các thử nghiệm có sự tham gia của doanh nghiệp, viện, trường và cơ quan quản lý. Qua đó, giải pháp kinh tế sinh học tuần hoàn được kiểm chứng trước khi nhân rộng trong các lĩnh vực công nghiệp.

Sự phối hợp cần hướng đến một quy trình có thể vận hành tại doanh nghiệp. Cơ sở nghiên cứu tham gia giải quyết yêu cầu công nghệ, còn doanh nghiệp chuẩn bị điều kiện tiếp nhận và ứng dụng kết quả. Nhu cầu đầu tư, đào tạo nhân lực và nguồn vốn cũng cần được xem xét trong quá trình này để giải pháp có thể tiếp tục phát triển sau thử nghiệm.

Kiểm chứng hiệu quả trước khi mở rộng đầu tư

Khoảng cách từ ý tưởng đến sản xuất đòi hỏi một giai đoạn kiểm chứng trong môi trường thực tế. TS. Yasuhiko Hotta, Chủ tịch APRSCP, cho rằng các mô hình thử nghiệm tạo điều kiện triển khai ý tưởng mới và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Khi thử nghiệm cho thấy tiềm năng, các bên cần tìm được cơ chế thu hút đầu tư để tiếp tục phát triển giải pháp.

Với hướng khai thác sinh khối, yêu cầu đặt ra là lựa chọn một bài toán cụ thể để đánh giá trước khi mở rộng. Nguồn phụ phẩm, quy trình chuyển đổi và khả năng sử dụng sản phẩm cần được xem xét cùng nhau. Kết quả thu được sẽ giúp doanh nghiệp xác định những điều kiện còn thiếu, điều chỉnh phương án công nghệ và cân nhắc bước đầu tư tiếp theo.

Kinh nghiệm triển khai các dự án thử nghiệm nhanh của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) cho thấy, quá trình kiểm chứng cần xem xét cả công nghệ, chính sách, tài chính và phản ứng của người sử dụng. Bà Akiko Yamamoto, Trưởng nhóm khu vực châu Á - Thái Bình Dương về Năng lượng và Môi trường của UNDP cho biết, các dự án này giúp đánh giá khả năng phát huy tác động của sáng kiến trong điều kiện thực tế và môi trường kinh doanh.

Cách tiếp cận đó giúp đặt công nghệ trong mối liên hệ với khả năng vận hành và nhu cầu thị trường. Một phương án chuyển đổi phụ phẩm cần được đánh giá cả ở khâu tạo ra sản phẩm lẫn điều kiện đưa sản phẩm vào sử dụng. Những thông tin từ thử nghiệm là cơ sở điều chỉnh giải pháp trước khi doanh nghiệp quyết định mở rộng quy mô.

baotintuc_tr_hoi-nghi-quoc-te-5836.jpg
Tiến sĩ Yasuhiko Hotta, Chủ tịch APRSCP, phát biểu tại hội nghị.

Theo đại diện UNDP, kinh tế tuần hoàn còn đòi hỏi thay đổi thiết kế để sử dụng ít tài nguyên hơn ngay từ đầu và đưa hoạt động thu hồi, tái sử dụng vào quá trình sản xuất. Vì vậy, khai thác sinh khối cần được xem xét trong toàn bộ quy trình. Mục tiêu tạo thêm giá trị từ phụ phẩm phải gắn với sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm tác động môi trường và bảo đảm lợi ích xã hội.

Để doanh nghiệp thực hiện được quá trình này, hoạt động chuyển giao cần đi cùng đào tạo và hỗ trợ tiếp cận nguồn lực. PGS.TS. Nguyễn Minh Tâm, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, nhấn mạnh yêu cầu chuyển hóa nghiên cứu thành ứng dụng nhằm tăng cường nội lực cho doanh nghiệp. Trong đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được tạo điều kiện tiếp cận công nghệ, nâng cao kỹ năng và tiếp cận tài chính.

Nguồn vốn cần được kết nối với lộ trình đổi mới công nghệ. Theo định hướng được Bộ Công Thương đưa ra, cơ chế và nguồn lực tài chính xanh phải đủ hấp dẫn để doanh nghiệp đầu tư. Khi công nghệ đã có kết quả kiểm chứng, sự phối hợp giữa bên nghiên cứu, doanh nghiệp và các đối tác tài chính sẽ tạo điều kiện đưa giải pháp vào sản xuất.

Cơ hội khai thác sinh khối vì vậy cần được cụ thể hóa bằng những phương án có nguồn nguyên liệu, quy trình phù hợp và nhu cầu sử dụng sản phẩm rõ ràng. Từ kết quả thử nghiệm, doanh nghiệp mới có cơ sở lựa chọn công nghệ, chuẩn bị nguồn lực và quyết định quy mô đầu tư.

Lưu Niệm/Báo Tin tức và Dân tộc

Dành cho bạn

Đổi mới cơ chế quản lý, đánh giá hiệu quả đầu tư khoa học công nghệ

Đổi mới cơ chế quản lý, đánh giá hiệu quả đầu tư khoa học công nghệ

Đảng, Quốc hội và Chính phủ xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực cho sự phát triển mới, đặc biệt việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW. Tuy nhiên, việc bố trí nguồn lực, hiệu quả sử dụng nguồn lực khoa học công nghệ hiện vẫn còn là khoảng cách.

Trung Quốc đưa mô hình trí tuệ bầy đàn đầu tiên vào ngành thép

Trung Quốc đưa mô hình trí tuệ bầy đàn đầu tiên vào ngành thép

Được phát triển bởi Tập đoàn Sắt thép Nam Kinh (NISCO) cùng tập đoàn công nghệ Huawei và các đối tác trong hệ sinh thái, “Mô hình lớn ngành thép Yuanye” (Yuanye), mô hình quy mô lớn đầu tiên trên thế giới dành cho ngành thép dựa trên trí tuệ bầy đàn đã được triển khai trong nhiều tình huống thực tế tại NISCO.