Lương tối thiểu vùng chính thức tăng từ 1/1/2027, lên mức 5,7 triệu đồng/tháng

Từ ngày 1/1/2027, mức lương tối thiểu tháng của người lao động làm việc theo hợp đồng lao động tăng từ 310.000 - 390.000 đồng tùy vùng. Mức lương tối thiểu giờ cũng được điều chỉnh tăng theo quy định mới của Chính phủ, mức tối đa là 27.400 đồng/giờ.

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị định số 399/2026/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động. Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/1/2027, thay thế Nghị định số 293/2025/NĐ-CP.

Dệt may là lĩnh vực sử dụng nhiều lao động. Ảnh: TTXVN
Dệt may là lĩnh vực sử dụng nhiều lao động. Ảnh: TTXVN

Theo quy định mới, mức lương tối thiểu tháng tại 4 vùng được điều chỉnh tăng so với hiện hành. Cụ thể, vùng I tăng từ 5,31 triệu đồng lên 5,7 triệu đồng/tháng, tăng 390.000 đồng; vùng II tăng từ 4,73 triệu đồng lên 5,08 triệu đồng/tháng, tăng 350.000 đồng.

Vùng III tăng từ 4,14 triệu đồng lên 4,45 triệu đồng/tháng, tăng 310.000 đồng; vùng IV tăng từ 3,7 triệu đồng lên 4,04 triệu đồng/tháng, tăng 340.000 đồng.

Như vậy, mức tăng lương tối thiểu tháng cao nhất là 390.000 đồng, áp dụng tại vùng I; thấp nhất là 310.000 đồng, áp dụng tại vùng III.

Cùng với mức lương tối thiểu tháng, lương tối thiểu giờ cũng được điều chỉnh tăng từ ngày 1/1/2027.

Cụ thể, mức lương tối thiểu giờ tại vùng I tăng từ 25.500 đồng lên 27.400 đồng; vùng II tăng từ 22.700 đồng lên 24.400 đồng; vùng III tăng từ 20.000 đồng lên 21.400 đồng; vùng IV tăng từ 17.800 đồng lên 19.400 đồng.

Nghị định quy định đối tượng áp dụng gồm người lao động làm việc theo hợp đồng lao động theo bộ luật Lao động; người sử dụng lao động, bao gồm doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo thỏa thuận; cùng các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

Việc xác định vùng áp dụng mức lương tối thiểu căn cứ vào địa bàn hoạt động của người sử dụng lao động. Đơn vị, chi nhánh hoạt động ở địa bàn nào thì áp dụng mức lương tối thiểu của địa bàn đó.

Trường hợp người sử dụng lao động hoạt động trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, khu kinh tế đặc biệt, khu thương mại tự do hoặc khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nằm trên các địa bàn có mức lương tối thiểu khác nhau thì áp dụng mức cao nhất.

Đối với địa bàn được đổi tên hoặc chia tách, mức lương tối thiểu tiếp tục áp dụng theo địa bàn trước khi thay đổi cho đến khi Chính phủ có quy định mới. Với địa bàn được thành lập từ một hoặc nhiều địa bàn có mức lương tối thiểu khác nhau, áp dụng mức cao nhất cho đến khi có quy định mới.

Nghị định 399 quy định, mức lương tối thiểu tháng là mức thấp nhất làm cơ sở để thỏa thuận và trả lương cho người lao động hưởng lương theo tháng. Tương tự, mức lương tối thiểu giờ là mức thấp nhất làm cơ sở thỏa thuận, trả lương cho người lao động hưởng lương theo giờ.

Đối với người hưởng lương theo tuần, ngày, sản phẩm hoặc lương khoán, tiền lương khi quy đổi theo tháng hoặc giờ cũng không được thấp hơn mức lương tối thiểu tương ứng. Việc quy đổi căn cứ vào thời giờ làm việc bình thường và quy định của pháp luật lao động.

Đáng chú ý, nghị định yêu cầu người sử dụng lao động rà soát các thỏa thuận trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và quy chế trả lương để điều chỉnh phù hợp với mức lương tối thiểu mới. Người sử dụng lao động không được xóa bỏ hoặc cắt giảm các chế độ tiền lương khi người lao động làm thêm giờ, làm việc ban đêm, chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật và các chế độ khác theo quy định pháp luật.

Các thỏa thuận, cam kết có lợi hơn cho người lao động đã được xác lập hợp pháp tiếp tục được thực hiện, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Trong đó, có chế độ trả lương cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu đối với công việc hoặc chức danh đòi hỏi người lao động qua học tập, đào tạo nghề; cao hơn ít nhất 5% đối với công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và cao hơn ít nhất 7% đối với công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm so với công việc có độ phức tạp tương đương trong điều kiện lao động bình thường.

Xuân Cường

Dành cho bạn

Hạt gạo phát thải thấp - Bài cuối: Bảo đảm lợi ích người trồng lúa

Hạt gạo phát thải thấp - Bài cuối: Bảo đảm lợi ích người trồng lúa

Nông dân Đồng bằng sông Cửu Long đang thay đổi cách canh tác để thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, để người dân duy trì phương thức sản xuất mới, chính sách hỗ trợ cần gắn yêu cầu kỹ thuật với bảo đảm thu nhập, cải thiện hạ tầng và chia sẻ rủi ro.

Hạt gạo phát thải thấp - Bài 2: Gỡ nút thắt công nghệ và vốn

Hạt gạo phát thải thấp - Bài 2: Gỡ nút thắt công nghệ và vốn

Để mở rộng sản xuất lúa phát thải thấp, Đồng bằng sông Cửu Long cần giải quyết đồng thời yêu cầu kỹ thuật và nguồn vốn đầu tư. Bên cạnh áp dụng công nghệ giúp nông dân giảm chi phí, kết quả giảm phát thải cũng cần được cơ quan chức năng hỗ trợ kiểm chứng để doanh nghiệp tiếp cận tài chính xanh và thị trường carbon.

Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI: Ưu đãi đầu tư phải đi đôi với hiệu quả dự án

Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI: Ưu đãi đầu tư phải đi đôi với hiệu quả dự án

Sáng 2/11, tiếp tục Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, các đại biểu đề nghị gắn ưu đãi với kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư, xây dựng tiêu chí đo lường hiệu quả dự án, tăng liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.

Hạt gạo phát thải thấp - Bài 1: Từ sản lượng đến giá trị

Hạt gạo phát thải thấp - Bài 1: Từ sản lượng đến giá trị

Đồng bằng sông Cửu Long đang chuyển đổi sản xuất lúa theo hướng nâng chất lượng và giảm phát thải. Để duy trì và mở rộng cách làm mới, ngành nông nghiệp cần tháo gỡ nút thắt về công nghệ, vốn và thị trường carbon, đồng thời bảo đảm lợi ích lâu dài cho người trồng lúa.