Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Đại tá, bác sỹ Lê Hồng Quang (Sáu Quang), chuyến vượt Trường Sơn ra Bắc với thủ trưởng Mười Cúc (cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh) là câu chuyện mà suốt đời ông không thể quên. Chuyến vượt Trường Sơn ấy đã ghi một dấu ấn đặc biệt trong tâm trí ông về sự ra đời của một Nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị nhằm chuẩn bị cho giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
“ Đi A”
Ông bắt đầu câu chuyện với chúng tôi bằng những kí ức của đêm trước ngày lên đường đi A (Hà Nội). Ông kể: Đêm ấy chú Mười khó ngủ, có lẽ do công việc ban ngày tồn đọng phải suy nghĩ, cũng có thể là tâm trạng của người xa gia đình sắp đến ngày gặp lại, nên chú cứ thao thức mãi. Tôi bấm huyệt giúp cho giấc ngủ của chú đến nhanh, nhưng chú cứ ngủ từng giấc ngắn.
Bác sỹ Lê Hồng Quang đang rất xúc động khi kể về chuyến đi vượt Trường Sơn với chú Mười. |
Khoảng hơn 2 giờ khuya, chừng như không thể ngủ tiếp được nữa, bất chợt chú Mười nói:“Đợt này mình đi công tác phải đến 3, 4 tháng đấy”. Ngừng một lát, chú lại hỏi: “Thế vợ cậu tháng nào sanh? - Thưa Chú khoảng nửa cuối tháng 8 ạ! - Năm nay cậu bao nhiêu tuổi rồi? - Thưa chú, cháu tuổi Dậu, sinh năm 1933, nhưng lý lịch thì khai là 1935, như vậy là 40 tuổi mới có con đầu lòng. - Ừ, cán bộ đi kháng chiến phần lớn đều có con muộn. Tôi cũng gần 40 tuổi mới có con đầu lòng đấy…
| Đại tá, bác sỹ Lê Hồng Quang, sinh năm 1933 tại Sa Đéc, Đồng Tháp. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, ông là một trong số ít cán bộ có vinh dự được phục vụ rất nhiều vị lãnh đạo trong Ban Thường vụ Trung ương Cục miền Nam như: Ông Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh), Sáu Dân (Võ Văn Kiệt), Hai Văn (Phan Văn Đáng), Hai Hậu (Trần Lương)… |
Tôi không dám hỏi gì thêm, mong giữ không khí yên lặng để chú ngủ tiếp. Một lúc chú lại bảo: “Trong số anh em cùng đi với tôi đợt này, cậu lớn tuổi hơn cả, lại có kinh nghiệm vượt Trường Sơn đi B, còn anh em khác là dân đồng bằng hoặc chỉ biết rừng núi, cố gắng đoàn kết giúp đỡ nhau mọi mặt trên đường đi”.
Sáng hôm sau, ngày 16/3/1973, đoàn của bác sỹ Quang xuất phát “đi A”. Trong chuyến công tác đặc biệt này, bác sỹ Quang có nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho hai vị thủ trưởng lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam vượt Trường Sơn, một là chú Mười làm trưởng đoàn, hai là đồng chí Sáu Dân (tức ông Võ Văn Kiệt, lúc bấy giờ làm Phó Bí thư T3 (khu 9 Nam Bộ). Còn bác sỹ Du Sỹ Ba (Chín Giang) đặc trách lo sức khỏe đồng chí Sáu Đường (Nguyễn Minh Đường) là Bí thư T2, Bác sỹ Bùi Tiến Đông đặc trách lo sức khỏe đồng chí Mười Khang, tức Đại tướng Hoàng Văn Thái...
Vào năm 1973, đường Trường Sơn cũng đã hình thành nhiều hệ đường đi từ Nam ra Bắc, như đường dành cho xe tải nặng đi riêng, đường ô tô con, hon da, đường mòn đi bộ. Nhưng đoàn của bác sỹ Lê Hồng Quang được đi đường mòn Hồ Chí Minh vì một lý do duy nhất là phải “ tuyệt đối giữ bí mật” cho đoàn này. Bởi vì đi chung trên đường mòn sẵn có thì sẽ gặp các đoàn khác dễ bị lộ vì mọi người chú ý, do đoàn đi có ít người, đặc biệt lại không mang vác gì nhiều. Chính vì đoàn thường phải né đường mòn và đi theo các đường mới do các binh trạm dẫn đường, cho nên hành trình “đi A” của bác sỹ Quang cùng chú Mười càng khó khăn hơn.
Ông nhớ lại: “Nhiều người cứ nghĩ khi Hiệp định Paris được kí thì chuyện vượt Trường Sơn trong thời gian này sẽ “dễ thở” hơn. Tuy nhiên, lại gian nan hơn nhiều, bởi trên đường Trường Sơn, địch vẫn “canh tuần” đánh phá ác liệt ngày đêm. Không lúc nào trên đầu không có máy bay gầm rú bắn phá, nhất là loại AC130 bay chậm, có khả năng phát hiện nhanh. Ban ngày, ô tô chúng tôi phải đi qua những đoạn rừng bị trụi lá vì chất độc hóa học, bụi mù mịt khiến địch rất dễ phát hiện.
Còn ban đêm phải dùng đèn qua những đoạn đường hẹp, đèo ngoằn ngoèo, nếu không cẩn thận rất dễ rớt xuống vực sâu, nguy hiểm khôn lường. Ở chặng cuối của cuộc hành trình, chúng tôi đến đoạn đầu của đường 559, đoàn được đại tá Đặng Tính tiễn ra khỏi cửa rừng để chuẩn bị về Hà Nội. Không ngờ đó là lần cuối chúng tôi được gặp đại tá… Tôi vẫn nhớ như in hình ảnh đại tá Đặng Tính bắt tay tạm biệt từng thành viên trong đoàn. Hai hôm sau, khi đoàn chúng tôi về đến Hà Nội thì ở Câu lạc bộ Quân đội Khu Cột có tổ chức lễ tang, hỏi ra mới biết đó là lễ tang cho đồng chí đại tá Đặng Tính. Anh em ở đây cho hay, sau khi tiễn đoàn đi, anh Tính quay trở lại rừng thì bị vướng bom nổ chậm và hy sinh”.
“Về B”
Sau một thời gian khẩn trương làm việc với Trung ương Đảng tại Hà Nội, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết trong tình hình mới với quyết tâm chiến lược được triển khai ngay. Đoàn Trung ương Cục miền Nam từ Hà Nội lại quay trở về “B2” (miền Nam) bằng cả 2 đường là đường thủy và đường bộ. Đồng chí Võ Văn Kiệt về B2 bằng đường thủy, còn đoàn “khứ hồi” của chú Mười xuất phát từ Hà Nội về B2 bằng đường bộ vào ngày 2/7/1973.
Khi trở lại B2, trong tuần đầu, chặng đầu đường 559, mọi việc tương đối thuận lợi với đoàn của bác sỹ Quang. Tuy nhiên, trục trặc bắt đầu từ tuần thứ hai, thứ ba, do thời tiết bất ổn, mùa mưa bão ập đến và biện pháp “tiến quân” duy nhất của đoàn chỉ là lội nước. Lúc này, đoàn đành tách ra, ô tô quay lại.
“Các bộ phận tiếp tục hành quân cùng chú Mười thật gọn nhẹ, ba lô được bọc vài lớp ni lông trở thành chiếc phao mỗi khi bơi qua suối nhỏ. Riêng với những con suối lớn thì chúng tôi phải bám theo dây cáp của anh em binh trạm để bơi qua suối. Các trận chiến đấu với nước lũ cũng gian nan, nguy hiểm không kém so với chiến đấu với quân địch, bởi chỉ cần không cẩn thận là có thể bỏ mạng theo dòng nước lũ. Bất kể ngày đêm, mưa nhỏ thì đi, mưa lớn thì nghỉ. Rất mừng là qua một tháng trời gian nan, vật lộn trong mưa bão, hành quân liên miên không thể định kế hoạch nhưng đoàn đã hoàn thành chuyến khứ hồi “A”, “B” mà sức khỏe chú Mười vẫn rất tốt.”
Và trong chuyến đi ấy, có một kỷ niệm với chú Mười Cúc mà ông nhớ hoài. Đó là khi đoàn vừa về đến C15 - khu căn cứ Trung ương Cục đêm hôm trước, thì sáng hôm sau chú Mười gọi bác sỹ Quang đến bảo: “Cậu đưa ngay cho tôi nghị quyết của Bộ Chính trị”. “Tôi ngớ người vì chưa nghe chú Mười nói đến nghị quyết nào cả. Lấy lại bình tĩnh, tôi thưa: “Cháu chưa thấy nghị quyết ấy bao giờ”. “Cậu nói lạ! Chính tôi giao cho cậu giữ mà” - chú Mười quả quyết. Lần đầu tiên trong đời tôi dám “cãi” lại chú Mười quyết liệt nhưng “ông già” vẫn nghiêm khắc: “Chính tôi trực tiếp giao cho cậu một gói, dặn kỹ phải giữ gìn cẩn thận” - ông Sáu Quang kể lại.
Thì ra, trên đường đi, ông Mười Cúc có đưa cho bác sĩ Sáu Quang một bọc đồ, bảo giữ vì trời mưa tầm tã. Không biết bên trong là gì nhưng ông vẫn bọc thêm mấy lớp ni lông và mang theo không rời.
“Nghe chú Mười hỏi Nghị quyết của Bộ Chính trị mà tôi điếng hồn, lỡ mất chắc chết cũng không hết tội vì lộ cả kế hoạch Tổng tiến công năm 1975. Qua chuyện đó, tôi càng thấm thía lời “ông già” từng khuyên: “Làm bất cứ việc gì cũng phải cẩn thận, hết mình, dù là chuyện nhỏ”. Bài học đó rất có ích đối với những người làm nghề y như tôi. Đến giờ, tôi vẫn dạy con cháu điều đó” - ông Sáu Quang đúc kết.
“Kết thúc một đợt công tác hơn 3 tháng “đi A” rồi “về B” cùng chú Mười và mãi đến khi mở màn Chiến dịch Hồ Chí Minh, tôi mới hiểu rõ tầm quan trọng của chuyến đi vượt Trường Sơn năm ấy. Chuyến đi đó mặc dù rất gian truân, vất vả, có cả những hy sinh, mất mát, nhưng quan trọng hơn cả là chúng tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ khi đem được Nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị, đặc biệt trong đó có kế hoạch Tổng tiến công năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước…”.
Bài và ảnh:H. Tuyết- Đ. Phương