Không đào tạo ra nhân lực có 'hạn sử dụng' thời AI

Trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh chóng, các trường đại học cần thu hẹp khoảng cách với thị trường lao động bằng cách chú trọng kỹ năng con người, tạo dựng môi trường "trường học hạnh phúc" và đẩy mạnh mô hình hợp tác ba bên: Nhà trường – Doanh nghiệp – Chính phủ.

toadamgiaoduc-9903.jpg

Chia sẻ với báo chí, GS. Rick Bennett – Phó Hiệu trưởng Đại học Anh Quốc Việt Nam (BUV) khẳng định chất lượng giáo dục không nằm ở sự tuân thủ hình thức mà phải trở thành văn hóa tổ chức.

Thưa ông, nếu nhìn vào học tập của sinh viên, đặc biệt là phát triển kỹ năng và năng lực nghề nghiệp, ông nhìn nhận chất lượng giáo dục đại học như thế nào?

Tôi muốn nhấn mạnh nhiều hơn đến kỹ năng và năng lực nghề nghiệp. Ông Denzel Eades, Chủ tịch BritCham Việt Nam đã đề cập đến ba yếu tố rất quan trọng: chất lượng, quốc tế hóa và năng lực nghề nghiệp. Chúng ta nói rất nhiều về chất lượng; quốc tế hóa cũng là một xu hướng rất quan trọng, nhưng theo tôi, năng lực nghề nghiệp cũng cần được đặt ngang hàng với hai yếu tố đó.

Trong thời gian gần đây, BUV đã thực hiện nhiều nghiên cứu và trao đổi với các nhà tuyển dụng để trả lời một câu hỏi rất thực tế: sinh viên mới tốt nghiệp đã thực sự sẵn sàng cho môi trường làm việc hay chưa? Khi đặt câu hỏi này với doanh nghiệp, phản ứng thường khá rõ ràng: Mọi người nhìn nhau, rồi câu trả lời cuối cùng thường là “chưa”.

Chúng ta đã nói về kỹ năng mềm trong rất nhiều năm, nhưng thực tế là các trường đại học vẫn chưa giải quyết đầy đủ khoảng trống này. Những kết quả nghiên cứu được Decision Lab trình bày tại Diễn đàn Giáo dục Việt Nam 2026 cho thấy có sự chênh lệch giữa những năng lực nhà tuyển dụng mong đợi và những gì sinh viên hiện có. Đây là nhóm năng lực thường được gọi là kỹ năng mềm, kỹ năng cá nhân hay kỹ năng con người. Sinh viên vẫn còn thiếu những năng lực này, và đó là điều các trường đại học cần chủ động giải quyết.

Điều đáng chú ý là sinh viên hiện lại làm khá tốt ở một lĩnh vực khác, đó là năng lực số. Nhưng vấn đề là chính những tác vụ gắn với năng lực số lại đang là phần mà AI có thể ngày càng đảm nhiệm nhiều hơn. Vì vậy, chúng ta phải rất cẩn trọng để không đào tạo ra những tấm bằng có “hạn sử dụng”, tức là chỉ chuẩn bị sinh viên cho những năng lực có thể nhanh chóng bị công nghệ thay thế.

Theo tôi, các trường đại học cần làm tốt hơn trong việc thu hẹp khoảng cách giữa thời điểm sinh viên tốt nghiệp và thời điểm họ thực sự sẵn sàng bước vào môi trường làm việc. Đây là một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của giáo dục đại học hiện nay.

BUV tiếp nhận phản hồi từ nhà tuyển dụng và sinh viên như thế nào, những phản hồi đó được chuyển hóa thành thay đổi và cải tiến chất lượng liên tục ra sao, thưa ông?

Tôi nghĩ câu chuyện này nên được nhìn rộng hơn, không chỉ trong phạm vi BUV. Với chúng tôi, một trong những điều đáng tự hào là chất lượng không chỉ được nhìn qua một hệ thống mang từ Vương quốc Anh sang, mà phải được kiểm chứng và duy trì trong chính bối cảnh giáo dục tại Việt Nam.

Khi một trường tham gia các hệ thống đảm bảo chất lượng như QAA, các cơ chế kiểm định khác hay hệ thống đánh giá của QS, điều quan trọng là trường phải liên tục duy trì chất lượng, chứ không phải chỉ chuẩn bị vào thời điểm được đánh giá. Trên thực tế, đây là một quá trình học hỏi rất có giá trị, bởi buộc tổ chức phải thường xuyên nhìn lại cách mình vận hành và cách mình giữ chuẩn.

Tôi thường đặt một câu hỏi rất đơn giản: Một cơ sở giáo dục đang xem chất lượng là yêu cầu để tuân thủ, hay đã biến chất lượng thành một phần của văn hóa tổ chức? Có thể hình dung giống như khi bạn còn nhỏ: bạn chỉ dọn giường khi biết mẹ sắp vào kiểm tra, hay bạn giữ nó gọn gàng mỗi ngày dù có ai kiểm tra hay không?

Với chất lượng cũng vậy. Nhờ có các hệ thống kiểm định và tái kiểm định, chúng tôi hình thành một cách vận hành trong đó mọi hoạt động đều được duy trì ở tiêu chuẩn cao nhất có thể một cách thường xuyên, chứ không phải chỉ nâng chuẩn khi sắp có đoàn đánh giá đến.

Theo tôi, còn có những khía cạnh khác của chất lượng mà chúng ta chưa nói nhiều hôm nay. Gần đây tôi tham dự một hội nghị tại Việt Nam, nơi các lãnh đạo giáo dục nói khá nhiều về “hạnh phúc trong trường đại học”. Nhưng hạnh phúc ở đây không có nghĩa là sinh viên lúc nào cũng phải vui vẻ hay mỉm cười. Nó có nghĩa là trong suốt thời gian học tập, sinh viên có một trải nghiệm tổng thể tích cực và an toàn. Sự an toàn rất quan trọng; trải nghiệm sinh viên phải hấp dẫn; chất lượng giảng dạy phải tốt; cơ sở vật chất phải tốt; thậm chí cả những yếu tố rất đời thường trong khuôn viên trường cũng góp phần tạo nên trải nghiệm đó. Có rất nhiều thành tố cùng tạo nên cảm nhận về một môi trường đại học hạnh phúc, theo tôi, đây ngày càng là một phần quan trọng của khái niệm chất lượng.

Một yếu tố nữa là lắng nghe tiếng nói của người học. Nghe thì có vẻ hiển nhiên, nhưng câu hỏi là các trường có thực sự làm điều đó hay không?

Tại BUV, chúng tôi tiếp nhận khoảng 20.000 phản hồi từ sinh viên mỗi năm thông qua nhiều kênh khác nhau, bên cạnh khảo sát sinh viên chính thức được thực hiện hàng năm. Điều quan trọng không chỉ là thu thập phản hồi, mà là phải liên tục theo dõi, xem xét và cho thấy nhà trường đang phản hồi như thế nào trước những ý kiến đó.

Nhờ vậy, khi làm việc với các tổ chức đảm bảo chất lượng, cơ quan quản lý hay các bên liên quan, chúng tôi có thể cho thấy một cách rõ ràng mình đang làm gì, đang lắng nghe điều gì và đang cải tiến ra sao. Với tôi, điều cốt lõi là đưa chất lượng trở thành một phần của văn hóa trong mọi hoạt động của tổ chức, thay vì chỉ coi đó là một yêu cầu phải đáp ứng vào thời điểm kiểm tra.

Theo ông, làm thế nào để giáo dục vừa đảm bảo chất lượng, vừa mang tính quốc tế, thực tiễn và tạo ra kết quả tích cực cho người học?

Cách tiếp cận trước đây thường là: “Đây là các chương trình đào tạo của chúng tôi. Đây là những gì chúng tôi sẽ cung cấp. Nếu bạn muốn, hãy đến và học. Chúng tôi biết điều gì là tốt nhất cho bạn.” Nhưng tôi nghĩ xã hội hiện nay đang thay đổi quá nhanh để giáo dục có thể tiếp tục vận hành theo cách đó.

Các trường đại học đã phải thích nghi và phải thích nghi rất nhanh. Thay vì chỉ nói “đây là những gì chúng tôi có”, chúng ta cần chuyển sang tư duy: “Chúng tôi hiểu điều bạn cần từ chúng tôi, và chúng tôi sẽ xây dựng điều đó cho bạn".

Tuy nhiên, điều này không thể chỉ do các trường đại học thực hiện. Doanh nghiệp và chính phủ cũng phải cùng tham gia. Chúng ta cần đặt giáo dục đại học, doanh nghiệp và chính phủ vào cùng một bàn và cùng nhau xây dựng kế hoạch, bởi cả ba bên đều có trách nhiệm đối với người học và đối với kết quả mà giáo dục mang lại.

Cuối cùng, mục tiêu phải là bảo đảm rằng khi một người kết thúc hành trình học tập, họ cảm thấy những gì mình nhận được là xứng đáng, phù hợp và có giá trị đối với tương lai của họ. Và nếu phải tóm lại điều đó trong một từ, với tôi, từ đó là “hợp tác”.

Đó là sự hợp tác giữa nhà trường, doanh nghiệp, chính phủ và người học để cùng xây dựng một hệ thống giáo dục phù hợp hơn với nhu cầu đang thay đổi rất nhanh của xã hội và thị trường lao động.

Trân trọng cảm ơn ông!

Diễn đàn Giáo dục Việt Nam 2026 là sự kiện mở đầu cho chuỗi hoạt động của Phái đoàn Giáo dục Vương quốc Anh trong chuyến công tác tại Hà Nội. Nằm trong khuôn khổ chương trình làm việc song phương, Đại sứ quán Anh, Tổng Lãnh sự quán Anh và BritCham Việt Nam sẽ tiếp tục tham gia Hội nghị Quốc tế về Hợp tác Giáo dục trong Kỷ nguyên số và Triển lãm Giáo dục & Công nghệ Giáo dục (IECEE 2026).

Lê Vân/Báo Tin tức và Dân tộc

Dành cho bạn

Đa dạng không gian trải nghiệm nghệ thuật cho học sinh THPT

Đa dạng không gian trải nghiệm nghệ thuật cho học sinh THPT

Thay vì chỉ tiếp cận nghệ thuật truyền thống qua bài học lý thuyết, học sinh THPT tại TP Hồ Chí Minh có thêm cơ hội gặp gỡ di sản trong nhiều không gian, từ sân khấu học đường, rạp hát đến lớp học để không chỉ xem mà còn tương tác, thực hành và khám phá theo cách riêng.

Hơn 118 tỷ đồng bổ sung cho trường công lập tại TP Hồ Chí Minh

Hướng dẫn phòng ngừa và xử lý khi xảy ra sự cố an toàn thực phẩm

Sở Giáo dục và Đào tạo TP Hồ Chí Minh vừa hướng dẫn các cơ sở giáo dục tăng cường phòng ngừa, xử lý sự cố an toàn thực phẩm, yêu cầu xây dựng quy trình ứng phó bằng văn bản và quy định các bước xử lý khi phát hiện học sinh có dấu hiệu ngộ độc thực phẩm.

Phấn đấu 100% học sinh được trang bị kỹ năng tự bảo vệ

Phấn đấu 100% học sinh được trang bị kỹ năng tự bảo vệ

Ngày 5/10, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Kế hoạch thực hiện Quyết định số 1415/QĐ-TTg ngày 28/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình quốc gia về bảo vệ trẻ em và phòng ngừa, giảm thiểu trẻ em lao động trái quy định của pháp luật giai đoạn 2026 - 2030.