Hiểu tiếng đồng bào, thấu lòng dân

Tại các xã miền núi tỉnh Quảng Ngãi - nơi quy tụ đồng bào của 44 dân tộc thiểu số cùng chung sống, rào cản ngôn ngữ từng là khó khăn lớn trong công tác tiếp xúc, giải quyết công việc của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ và giáo viên công tác tại cơ sở.

Nhằm khắc phục hạn chế này, lực lượng công an, giáo viên và cán bộ các cấp trên địa bàn đã chủ động học tiếng đồng bào dân tộc thiểu số, qua đó thắt chặt tình đoàn kết, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động nhân dân.

Phá bỏ rào cản ngôn ngữ từ cơ sở

tieng-dan-toc2.jpg
Theo các chiến sĩ Công an xã Ba Động, việc hiểu tiếng đồng bào giúp mối quan hệ giữa lực lượng công an với nhân dân thêm phần cởi mở, thân thiết.

Ở nhiều địa bàn vùng cao của tỉnh Quảng Ngãi, phần lớn đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế trong việc sử dụng tiếng phổ thông. Sự khác biệt về ngôn ngữ ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình trao đổi thông tin, tiếp nhận các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cũng như việc triển khai các thủ tục hành chính.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác dân vận, thời gian qua, nhiều cán bộ, chiến sĩ công an, giáo viên và cán bộ cơ sở người Kinh đã dành thời gian học tiếng của đồng bào các dân tộc thiểu số như Hre, Co, Ba Na..., xem đây là “ngoại ngữ” thiết yếu trong quá trình thực thi nhiệm vụ.

Chia sẻ về thực tiễn công tác, Thượng úy Phan Thiên Đạt (Công an xã Ba Động) cho biết, sau một thời gian gắn bó với địa bàn, anh đã chủ động học các câu giao tiếp thông dụng của đồng bào Hre. Những câu thăm hỏi xã giao quen thuộc bằng chính tiếng địa phương đã giúp mối quan hệ giữa lực lượng công an với nhân dân thêm phần cởi mở, thân thiết, từ đó tạo thuận lợi lớn trong việc phổ biến kiến thức pháp luật đến bà con.

tieng-dan-toc3.jpg
Nhờ thành tiếng đồng bào, Công an xã Ba Vinh triển khai Đề án 06 và đưa các tiện ích ứng dụng VNeID đến gần hơn với người dân vùng cao theo phương châm “cầm tay chỉ việc".

Đồng quan điểm này, ông Phạm Văn Bin (xã Ba Động) chia sẻ, sự nhiệt tình và việc chủ động sử dụng tiếng địa phương của lực lượng công an khi xuống cơ sở đã giúp người dân tiếp thu rất nhanh các nội dung tuyên truyền. Đánh giá về sự đổi thay tại địa phương, bà Phạm Thị Năm cho rằng đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào nay đã khởi sắc rõ rệt, ý thức vươn lên trong lao động, học tập ngày càng được nâng cao nhờ sự quan tâm, đồng hành sát sao của cấp ủy, chính quyền và lực lượng chức năng.

Bên cạnh đó, trong công cuộc chuyển đổi số, việc khắc phục rào cản ngôn ngữ càng mang ý nghĩa thiết thực. Triển khai Đề án 06 và đưa các tiện ích ứng dụng VNeID đến gần hơn với người dân vùng cao theo phương châm “cầm tay chỉ việc”, Thượng úy Nguyễn Thành Lợi (Công an xã Ba Vinh) cho biết, do nhiều người dân chưa nắm rõ các thao tác, tài khoản đăng nhập hay mật khẩu trên ứng dụng định danh điện tử, việc sử dụng tiếng địa phương trong hướng dẫn trực tiếp đã giúp đồng bào dễ dàng tiếp cận công nghệ, xóa bỏ khoảng cách địa lý khi giải quyết thủ tục hành chính.

Nâng cao chất lượng công tác

tieng-dan-toc4.jpg
Nhờ học tiếng dân tộc thiểu số, công tác giảng dạy của các thầy cô vùng cao ngày càng thuận lợi.

Không chỉ lực lượng công an, đội ngũ nhà giáo và cán bộ, công chức công tác tại vùng sâu, vùng xa cũng tích cực trau dồi tiếng đồng bào để phục vụ công tác chuyên môn. Từ thực tế giảng dạy, nhiều giáo viên người miền xuôi khi mới chuyển về công tác từng gặp không ít trở ngại trong việc truyền đạt kiến thức cho học sinh dân tộc thiểu số. Nhờ chủ động học hỏi tiếng địa phương từ già làng, trưởng thôn, công tác giảng dạy của các thầy cô ngày càng thuận lợi, chất lượng giáo dục vùng cao từng bước được cải thiện.

Cô Hồ Thị Ly Na, giáo viên môn Lịch sử - Địa lý, Trường Phổ thông dân tộc Tiểu học và Trung học cơ sở Mô Rai (xã Mô Rai) chia sẻ: Khi mới về đây công tác, do chưa thông thạo tiếng đồng bào nên việc truyền đạt kiến thức cho các em học sinh gặp không ít trở ngại. Vì vậy, cô cùng một số giáo viên trong trường đã chủ động học tiếng từ già làng, trưởng bon (tương đương với trưởng thôn) và chính các em học sinh. Nhờ vốn từ thực tế ấy, việc giảng dạy nay đã thuận lợi và hiệu quả hơn rất nhiều.

Từ góc độ quản lý nhà nước tại cơ sở, lãnh đạo chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh khẳng định việc thành thạo tiếng đồng bào dân tộc thiểu số là điều kiện tiên quyết giúp đội ngũ cán bộ nắm bắt chính xác tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, từ đó tham mưu và đề ra các chủ trương, chính sách thiết thực, phù hợp với đời sống thực tế. Trao đổi về vấn đề này, ông Nguyễn Anh Khoa, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Ba Tơ cho biết, đối với cán bộ công tác ở vùng sâu, vùng xa, tiếng của đồng bào dân tộc thiểu số chính là “ngoại ngữ” cần thiết nhất. Việc quyết tâm học tập thêm thứ ngôn ngữ này đã giúp các cán bộ vượt qua rào cản giao tiếp, từ đó gắn bó mật thiết và phục vụ nhân dân tốt hơn.

Đánh giá về chủ trương đào tạo nguồn nhân lực, Tiến sĩ Trần Đình Thám, Hiệu trưởng Trường Đại học Phạm Văn Đồng (Quảng Ngãi) cho biết, hằng năm nhà trường đều duy trì tổ chức các lớp đào tạo tiếng đồng bào Co, Hre dành cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn. Việc đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng này nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực, trình độ chuyên môn sát với thực tiễn, qua đó tạo điều kiện để mỗi cán bộ vận dụng linh hoạt kiến thức ngôn ngữ và văn hóa vào quá trình thực thi nhiệm vụ, nhất là trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh trật tự tại cơ sở.

Đẩy mạnh chủ trương “4 cùng” với nhân dân

tieng-dan-toc.jpg
Nhờ học ngôn ngữ dân tộc thiểu số đã giúp các cán bộ vùng cao vượt qua rào cản giao tiếp, từ đó gắn bó mật thiết và phục vụ Nhân dân tốt hơn.

Nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu “hiểu được đồng bào nói, nói cho đồng bào hiểu, làm cho đồng bào tin”, cấp ủy, chính quyền các cấp tỉnh Quảng Ngãi tiếp tục duy trì và mở nhiều lớp học tiếng đồng bào dân tộc thiểu số cho đội ngũ cán bộ, công chức, chiến sĩ.

Ông Hồ Ngọc Thịnh, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi nhấn mạnh: Việc cán bộ, công chức, chiến sĩ học và sử dụng thành thạo tiếng đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ đơn thuần là giải quyết bài toán giao tiếp, mà còn là giải pháp căn cơ để thực hiện thắng lợi công tác dân vận trong tình hình mới. Khi cán bộ thực sự nói chung tiếng nói, thấu hiểu phong tục và đặt lợi ích của đồng bào lên hàng đầu, mọi chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước sẽ bén rễ sâu vào đời sống vùng cao, tạo thành khối đoàn kết toàn dân vững chắc.

Công tác dân vận tại các địa phương vùng cao nay không chỉ dừng lại ở phương châm “3 cùng” truyền thống mà đã nâng tầm lên thành “4 cùng”: cùng ăn, cùng ở, cùng làm và cùng nói tiếng đồng bào. Sự gắn bó keo sơn ấy giúp đội ngũ cán bộ, chiến sĩ và giáo viên không chỉ nắm vững phong tục tập quán của bà con để áp dụng phương pháp tuyên truyền phù hợp, mà còn củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang. Nhờ những nỗ lực đồng bộ đó, nhận thức của đồng bào vùng cao đã có nhiều chuyển biến tích cực, đời sống kinh tế - xã hội từng bước khởi sắc, khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được củng cố vững chắc.

Bài và ảnh: Đinh Hương/TTXVN