Giảm thủ tục đăng ký nuôi con nuôi

Chỉ còn hơn 1 năm nữa để các gia đình nuôi con nuôi đăng ký với các cơ quan có thẩm quyền để được pháp luật công nhận nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Tuy nhiên, hiện có rất ít người đăng ký do còn có tâm lý e ngại.

Chỉ còn hơn 1 năm nữa để các gia đình nuôi con nuôi đăng ký với các cơ quan có thẩm quyền để được pháp luật công nhận nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Tuy nhiên, hiện có rất ít người đăng ký do còn có tâm lý e ngại.

Lợi ích của việc đăng ký


Luật Nuôi con nuôi quy định: Việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau trước ngày luật này có hiệu lực (1/1/2011) mà chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được đăng ký trong thời hạn 5 năm (từ 1/1/2011 đến 31/12/2015). Nếu hết thời hạn này mà người nuôi con nuôi không đăng ký thì việc nuôi con nuôi thực tế sẽ không được pháp luật công nhận, các tranh chấp liên quan đến cha mẹ nuôi, con nuôi, giữa con nuôi với các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi sẽ không được pháp luật bảo hộ.


Theo ông Nguyễn Văn Chiến, Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Luật sư Việt Nam, đăng ký nuôi con nuôi không chỉ mang ý nghĩa nhân văn tốt đẹp mà còn là căn cứ pháp lý quan trọng đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cả cha mẹ và con nuôi. Khi được đăng ký, đứa trẻ nhận nuôi sẽ được hưởng các quyền cơ bản của công dân như: quyền chăm sóc sức khỏe, quyền được học hành, quyền sở hữu tài sản... Việc đăng ký được thực hiện đúng sẽ góp phần giúp cơ quan chức năng quản lý tốt dân số, đảm bảo an sinh xã hội cho công dân.


Đặc biệt, khi được pháp luật thừa nhận, con nuôi sẽ được đối xử ngang bằng với con đẻ trong vấn đề thừa kế tài sản. Bộ luật dân sự đã quy định rõ, những người thừa kế thuộc hàng thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Dựa trên nguyên tắc không phân biệt đối xử trong quan hệ hôn nhân và gia đình, pháp luật quy định những người thừa kế cùng hàng thừa kế sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau mà không phân biệt con đẻ hay con nuôi. “Tuy nhiên, việc này chỉ được thực hiện khi mối quan hệ giữa con nuôi và cha mẹ nuôi được pháp luật công nhận. Bằng chứng là việc nuôi con nuôi phải được đăng ký tại UBND xã, phường, thị trấn nơi thường trú của cha mẹ nuôi hoặc con nuôi”, ông Chiến nhấn mạnh.


Ngại đăng ký vì… tâm lý


Chị Nguyễn Thu P. (Hoài Đức, Hà Nội) lấy chồng đã hơn 10 năm nhưng vẫn chưa có con. Sau rất nhiều nỗ lực chạy chữa không có kết quả, vợ chồng chị đi đến quyết định nhận con nuôi. Qua quen biết, chị P. đã “xin” được một đứa trẻ của một gia đình đông con có hoàn cảnh khó khăn. Thấm thoát đã gần 4 năm nhưng vợ chồng chị P. vẫn chưa làm thủ tục đăng ký nuôi con nuôi với chính quyền địa phương. Lý giải về điều này, chị P. cho rằng, đây là vấn đề khá “tế nhị”, khó có thể công khai để người khác biết. “Hơn nữa, tôi cũng không muốn cháu biết mình là con nuôi rồi lại nảy sinh tâm lý mặc cảm. Thôi thì đã nhận cháu về thì cố gắng nuôi dạy cháu thật tốt để bằng bạn bằng bè chứ cũng không nên câu nệ giấy tờ làm gì”, chị P. chia sẻ.


Trường hợp như chị P. không hiếm. Bộ Tư pháp nhận định, tâm lý e ngại, không muốn công khai mối quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi… đang là cản trở lớn khiến quy định đăng ký nuôi con nuôi chưa được chú trọng. Đây là vấn đề thuộc về nhận thức của người dân, đã có từ đời này sang đời khác, tạo thành thói quen tâm lý không dễ thay đổi một sớm một chiều.


Theo thống kê chưa đầy đủ, kể từ khi Luật Nuôi con nuôi có hiệu lực đến nay, số trường hợp nhận nuôi con nuôi đủ điều kiện nhưng chưa đăng ký là 3.264 trường hợp. Trong đó, đa phần là do cha mẹ nuôi/con nuôi không muốn đăng ký (1.824 trường hợp - chiếm 56%); còn lại là do có khó khăn về hồ sơ, giấy tờ, một bên cha/mẹ nuôi hoặc con nuôi đã chết, không đủ điều kiện về độ tuổi (cha mẹ nuôi và con nuôi cách nhau dưới 20 tuổi)…


Chỉ tính riêng tại thành phố Hà Nội, tính đến cuối năm 2013, trong 818 trường hợp nuôi con nuôi đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của luật thì có tới 605 trường hợp (74%) cha mẹ nuôi/con nuôi không muốn đăng ký, phần lớn tập trung ở các huyện ngoại thành và một số ít quận ven đô. Phó trưởng phòng Hành chính Tư pháp (Sở Tư pháp Hà Nội) Nguyễn Thị Hằng lý giải: Cha mẹ nuôi muốn giữ bí mật để con nuôi yên tâm “nối dõi tông đường”, tạo tâm lý yên ổn; có người con nuôi không muốn đi đăng ký vì sợ ảnh hưởng đến quyền lợi về nhà đất được bố mẹ nuôi cho, tặng.


Tạo thuận lợi cho người nhận con nuôi


Cũng trong hoàn cảnh nhận nuôi con nuôi mà chưa đăng ký nhưng lý do của chị Trần Thị Tố N. (Cầu Giấy, Hà Nội) lại khác hẳn. Theo chị N, nguyên nhân là do thủ tục quá phức tạp. Chị N. cho biết, với mong muốn đứa trẻ có chút máu mủ với mình, chị đã nhận nuôi một đứa con của một người họ hàng. “Cứ tưởng đã là người thân thì thủ tục sẽ đơn giản nhưng không phải vậy. Khi làm hồ sơ, cán bộ tư pháp yêu cầu tôi phải có phiếu lý lịch tư pháp (thủ tục này phải làm tại Sở Tư pháp thành phố Hà Nội) và giấy khám sức khỏe của bản thân. Để có được mấy loại giấy tờ này, tôi phải đi lại nhiều lần và tốn rất nhiều thời gian”, chị N. tâm sự.


Trao đổi với phóng viên về vấn đề này, Cục trưởng Cục Con nuôi (Bộ Tư pháp) Nguyễn Văn Bình thừa nhận, quy định này đã thể hiện sự bất cập ngay từ khi Luật Nuôi con nuôi mới có hiệu lực. Cục đã nhận được phản ánh từ nhiều địa phương đề nghị sớm sửa đổi quy định này để bảo đảm thuận tiện cho người dân, đặc biệt là người dân vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn. Hậu quả trực tiếp của việc này chính là người dân đem trẻ em về nuôi dưỡng, coi nhau như cha mẹ con mà không tiến hành đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền. “Cần nghiên cứu bỏ quy định tại khoản 3, Điều 17 (yêu cầu có phiếu lý lịch tư pháp), thay bằng văn bản xác nhận của UBND cấp xã nơi thường trú của người nhận con nuôi”, Cục trưởng Cục Con nuôi kiến nghị.


Nhiều ý kiến cho rằng, việc nuôi con nuôi là vấn đề hết sức nhạy cảm và có những đặc thù riêng, không phải ai cũng muốn công khai. Luật Nuôi con nuôi và Nghị định 19/2011/NĐ-CP đề cập đến thủ tục đăng ký, quyền lợi và trách nhiệm của các bên liên quan trong quan hệ nuôi con nuôi. Tuy nhiên, việc đăng ký nuôi con nuôi phải đảm bảo tôn trọng quyền tự quyết của người dân, tôn trọng ý chí, nguyện vọng và quyền lợi của họ chứ không bắt buộc người dân đi đăng ký một cách cứng nhắc.


Để giải quyết tình trạng này, bà Nguyễn Thị Hằng, Phó trưởng phòng Hành chính Tư pháp (Sở Tư pháp Hà Nội) cho rằng, ngoài sự tự ý thức của các gia đình nhận con nuôi thì cần có sự chủ động “vào cuộc” của UBND cấp xã, Mặt trận Tổ quốc, Hội Liên hiệp Phụ nữ. Sự phối hợp này đảm bảo cho việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì quyền lợi của các bên.


Thu Phương