Đưa khoa học, công nghệ phát triển, đổi mới công tác dân tộc, tôn giáo

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng trong phát triển đất nước.

Đối với lĩnh vực công tác dân tộc, tôn giáo, việc cụ thể hóa chủ trương này không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn phải tạo ra những giải pháp phù hợp với đặc thù địa bàn, văn hóa và đời sống của đồng bào.

Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đang xây dựng và hoàn thiện Đề án “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công tác dân tộc, tôn giáo” giai đoạn 2026–2035. Đây được xem là bước cụ thể hóa chủ trương phát triển khoa học, công nghệ vào một lĩnh vực quản lý nhà nước có tính đặc thù, liên quan trực tiếp đến đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo và yêu cầu củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

baotintuc_tr_1793932974522-5017599521435381892-5017599521435381892-48307ac940f6e5eeaf05d12285d30f71.jpg
Tại hội thảo khoa học “Nhiệm vụ, giải pháp, nguồn lực và cơ chế thực hiện phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công tác dân tộc, tôn giáo giai đoạn 2026-2035" do Học viện Dân tộc tổ chức ngày 6/11 nhiều nhà khoa học, chuyên gia, nhà nghiên cứu và nguyên lãnh đạo Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã cùng trao đổi, đóng góp ý kiến cho việc hoàn thiện Đề án.

Nhận diện điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực khoa học, công nghệ

Đánh giá về quá trình xây dựng Đề án, TS Hoàng Xuân Lương, nguyên Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc, cho rằng việc tiếp thu ý kiến của các bộ, ngành, địa phương và các nhà khoa học đã giúp dự thảo từng bước hoàn thiện. Qua rà soát, nhiều nội dung cần thiết đã được bổ sung, nhất là những vấn đề liên quan đến đặc thù của lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, từ nhận diện hạn chế đến nghiên cứu, đề xuất các giải pháp phù hợp.

baotintuc_tr_htl.jpg
TS Hoàng Xuân Lương, nguyên Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc chia sẻ, góp ý hoàn thiện Đề án.

Theo TS Hoàng Xuân Lương, công tác dân tộc, tôn giáo có những đặc điểm riêng, gắn với điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán, văn hóa và đời sống tín ngưỡng của các cộng đồng. Vì vậy, Đề án cần làm rõ những đặc thù này để xây dựng các giải pháp khoa học, công nghệ có khả năng ứng dụng, thay vì áp dụng cách tiếp cận chung cho mọi lĩnh vực.

Thực tế cho thấy, dù đã có những kết quả nghiên cứu, điều tra và ứng dụng khoa học, công nghệ, lĩnh vực công tác dân tộc, tôn giáo vẫn còn nhiều hạn chế. Năng lực nghiên cứu liên ngành, hệ thống dữ liệu phục vụ phân tích, dự báo và khả năng chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiễn chưa đáp ứng yêu cầu. Đầu tư cho khoa học, công nghệ còn phân tán, thiếu sự kết nối đồng bộ giữa nghiên cứu, xây dựng dữ liệu, phát triển hạ tầng, đào tạo nhân lực và ứng dụng tại cơ sở.

Đáng chú ý, nguồn nhân lực có khả năng kết hợp kiến thức chuyên sâu về dân tộc, tôn giáo với khoa học dữ liệu, công nghệ số và đổi mới sáng tạo còn thiếu. Đây là một trong những điểm nghẽn cần được giải quyết nếu muốn đưa kết quả nghiên cứu trở thành công cụ phục vụ quản lý và phát triển.

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi nhiều mặt của đời sống xã hội, công tác dân tộc, tôn giáo cũng đứng trước những yêu cầu mới. Đô thị hóa, di cư, hội nhập quốc tế và sự phát triển của môi trường mạng tác động đến quan hệ cộng đồng, đời sống văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo. Những biến đổi này đòi hỏi cơ quan quản lý phải có thông tin cập nhật, luận cứ khoa học và công cụ phân tích để nhận diện vấn đề, dự báo xu hướng và đánh giá tác động chính sách.

Tinh thần Nghị quyết 57 cần được cụ thể hóa bằng việc đổi mới cách thức tổ chức hoạt động khoa học, công nghệ, từ xác định nhiệm vụ nghiên cứu đến ứng dụng và chuyển giao kết quả. Thay vì tập trung vào các đề tài riêng lẻ, cần ưu tiên những nhiệm vụ xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, có địa chỉ tiếp nhận và khả năng giải quyết những vấn đề đang đặt ra tại địa phương.

Đưa kết quả nghiên cứu vào đời sống đồng bào

Một trong những yêu cầu quan trọng khi triển khai Đề án giai đoạn 2026–2035 là chuyển từ tư duy nghiên cứu đơn thuần sang nghiên cứu gắn với ứng dụng, chuyển giao và tạo ra giá trị thực tiễn. Kết quả khoa học không chỉ được đánh giá qua báo cáo nghiệm thu mà cần được cụ thể hóa thành cơ sở dữ liệu, công cụ quản lý, mô hình ứng dụng, sản phẩm số và những giải pháp phục vụ trực tiếp cộng đồng.

Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có thể mở ra nhiều hướng phát triển. Việc ứng dụng công nghệ trong sản xuất giúp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hỗ trợ bảo quản, chế biến và kết nối thị trường. Trong giáo dục, y tế và dịch vụ công, các nền tảng số có thể góp phần cải thiện khả năng tiếp cận của người dân, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, địa bàn còn nhiều khó khăn.

Cùng với phát triển kinh tế - xã hội, công nghệ số còn tạo điều kiện lưu giữ, số hóa và phát huy các giá trị văn hóa, ngôn ngữ, di sản và tri thức bản địa. Tuy nhiên, việc ứng dụng cần xuất phát từ nhu cầu thực tế, phù hợp với điều kiện địa bàn, khả năng tiếp cận và trình độ sử dụng công nghệ của người dân. Đồng bào phải thực sự là chủ thể tham gia từ khâu xác định nhu cầu, thử nghiệm đến tiếp nhận và đánh giá hiệu quả của các mô hình.

Trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ cần góp phần nâng cao chất lượng xây dựng, thực thi chính sách, tăng cường tiếp nhận phản hồi và truyền thông chính sách. Đồng thời, cần phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức và nguồn lực xã hội tích cực của các tôn giáo; bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Để thực hiện được những mục tiêu này, Đề án cần chú trọng phát triển đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ tại chỗ, nhất là trí thức trẻ người dân tộc thiểu số; tăng cường kết nối giữa cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp công nghệ và địa phương. Đặc biệt, cần phát huy vai trò của người có uy tín, chức sắc, chức việc, nghệ nhân và những người nắm giữ tri thức bản địa trong quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và triển khai các giải pháp.

Việc hoàn thiện cơ chế đầu tư, đặt hàng, chuyển giao và đánh giá kết quả nghiên cứu cũng có ý nghĩa quyết định. Các nhiệm vụ khoa học, công nghệ cần được lựa chọn theo thứ tự ưu tiên, có sản phẩm đầu ra rõ ràng, xác định đơn vị tiếp nhận và bảo đảm nguồn lực duy trì sau chuyển giao. Cùng với đó, cần khắc phục tình trạng dữ liệu phân tán, đầu tư trùng lặp, kết quả nghiên cứu thiếu tính liên kết và khó nhân rộng.

Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra yêu cầu tạo đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên phạm vi cả nước. Với lĩnh vực công tác dân tộc, tôn giáo, đột phá này cần được đo bằng hiệu quả quản lý nhà nước, chất lượng chính sách và những chuyển biến thực chất trong đời sống đồng bào.

Hoàng Bằng - Phương Đoàn

Dành cho bạn

Phát huy mô hình Dân vận khéo của Công an trên không gian số

Phát huy mô hình Dân vận khéo của Công an trên không gian số

Thông qua mô hình Dân vận khéo “Gắn kết đào tạo - phục vụ cộng đồng”, Khoa Nghiệp vụ Điều tra hình sự, Học viện Cảnh sát nhân dân đưa kiến thức pháp luật, kỹ năng phòng ngừa tội phạm đến người dân, đồng thời giúp giảng viên, học viên rèn luyện chuyên môn, trách nhiệm phục vụ nhân dân.

Chùa online Sansa ghi nhận 1 triệu lượt truy cập sau một tuần hoạt động. Ảnh: Sansa

Từ chùa ảo đến tiền công đức thật: Ngăn AI tiếp tay cho lừa đảo quyên góp

Trào lưu “đi chùa online” cho thấy AI đang mở ra những trải nghiệm mới trên không gian số, nhưng cũng đặt ra nguy cơ bị lợi dụng để giả mạo cơ sở tôn giáo, kêu gọi quyên góp và chiếm đoạt tiền công đức. Trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW, bảo vệ người dùng trước những hình thức lừa đảo mới không chỉ đòi hỏi nâng cao cảnh giác mà còn cần cơ chế xác thực, cảnh báo sớm và bảo đảm an toàn giao dịch.