Vẻ đẹp của rau nhót phủ tím trên đồng muối rộng 20 ha thu hút du khách

Du khách bất ngờ và hút mắt trước vẻ đẹp của loài rau nhót mặn mọc dày, phủ tím những cánh đồng muối hai bên đường ven biển Nghi Sơn - Cửa Lò.
Chú thích ảnh
Cận cảnh một khóm rau nhót mặn mọc trên đồng muối. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Thời điểm này, có dịp đi trên tuyến đường ven biển Nghi Sơn - Cửa Lò (qua địa phận xã Quỳnh Phú, tỉnh Nghệ An), du khách sẽ bất ngờ và hút mắt trước vẻ đẹp của loài rau nhót mặn mọc dày, phủ màu tím trên những cánh đồng muối hai bên đường của người dân thuộc địa bàn các xã Quỳnh Thuận, An Hòa, Quỳnh Nghĩa, Tiến Thủy… của huyện Quỳnh Lưu (cũ). Trên những diện tích bằng phẳng để phơi đất của những cánh đồng muối rộng hàng chục ha, rau nhót ngả màu tím, nhuộm không gian, trông rất bắt mắt.

Sắc tím đặc trưng

Rau nhót (còn có tên là rau còng còng, rau sương muối) có thân màu tím phớt hồng, lá mọng nước như hoa mười giờ, mọc hoang ngoài bãi ven các đầm nuôi tôm, cửa sông, cửa biển, cánh đồng muối… Theo chu kỳ sinh trưởng, từ tháng Giêng hằng năm, khi tiết trời ấm dần, rau nhót lại bắt đầu vòng đời sinh sôi, phát triển. Sức sống bền bỉ, dẻo dai của rau nhót có được nhờ đặc tính uống “sương đêm”, thở “khí trời”. Hút dưỡng chất từ lớp đất mặn nên càng ở những nơi nắng gió khắc nghiệt, ít chịu sự tác động của con người, rau nhót lại càng phát triển tốt tươi.

Tại cánh đồng muối rộng hơn 20 ha của người dân thôn Nghĩa Phú (xã Quỳnh Phú) nằm cạnh cửa biển Lạch Quèn, mọi người đều bị “hút mắt” bởi bạt ngàn sắc tím của rau nhót đang phủ kín nơi đây. Rau nhót hiện diện khắp mọi nơi từ chỗ phơi đất, dọc các kênh mương dẫn nước biển vào đồng muối đến cả nền chưng cất nước mặn để tạo muối, hệ thống giếng đựng nước, bể lọc rau nhót cũng mọc thành đám, trải sắc tím thành thảm, nhuộm tím không gian. Từ cầu Lạch Quèn nhìn xuống, cả cánh đồng muối của thôn Nghĩa Phú như được khoác lên mình một tấm áo mới, điểm xuyết bởi những dải màu tím rực rỡ và bình yên của rau nhót.

Chú thích ảnh
Rau nhót mặn có thể sinh trưởng, phát triển mạnh ở những nơi có cỏ mọc ven bờ sông, bãi biển, ao đầm nuôi tôm. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Ông Nguyễn Văn Hải, người dân thôn Nghĩa Phú (xã Quỳnh Phú) cho biết, rau nhót có từ bao giờ cũng chẳng ai rõ. Bao đời nay, người dân chúng tôi đã quen thuộc với nó trên cánh đồng muối. Rau nhót có đặc điểm khá kỳ lạ. Nếu mọc ở những nơi thiếu độ mặn, rau nhót có màu xanh mơn mởn, nhưng mọc ở trên đồng muối lại có màu tím đặc trưng. Từ nhiều tuần qua, không riêng thôn Nghĩa Phú mà nhiều vùng, khu vực làm muối khác ở các xã Quỳnh Thuận, An Hòa, Quỳnh Nghĩa, Tiến Thủy (cũ), rau nhót mặn nhuộm tím nhiều diện tích trên những cánh đồng muối.

Bất ngờ trước vẻ đẹp những bãi đất mọc đầy rau nhót, phủ kín sắc tím trên cánh đồng muối, không ít người đi đường đã dừng xe, trực tiếp đi bộ xuống cánh đồng muối để chụp ảnh. Họ tỏ ra thích thú trước vẻ đẹp nhẹ nhàng, dung dị của loại cây hoang dã này. Chị Nguyễn Thị Phương (phường Đông Quang, tỉnh Thanh Hóa) chia sẻ, từ xa nhìn cứ nhầm tưởng những thảm màu tím dưới đồng muối là hoa mười giờ. Khi đến gần, chị mới biết màu tím đó được tạo nên từ muôn vàn lá rau nhót. Bất ngờ hơn, lá rau nhót ở khu vực này lại có màu tím biếc chứ không phải màu xanh như thường thấy. Dạo trên đồng muối, ngắm những bãi rau nhót tím, cùng trải nghiệm, tìm hiểu về cách thức làm muối biển truyền thống nơi vùng cửa biển khiến chị cảm thấy thú vị.

Nộm rau nhót - đặc sản của cư dân miền biển xứ Nghệ

Chú thích ảnh
Khi được hơn 1 tuần tuổi, rau nhót mặn sẽ đẻ nhánh, đâm chồi, mọc thành khóm và lan rộng ra các diện tích đất xung quanh. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Với người dân miền biển tỉnh Nghệ An, cây rau nhót là món quà mà thiên nhiên đã ban tặng để làm nguyên liệu, tạo nên món ăn độc đáo, góp phần làm nên thương hiệu ẩm thực xứ Nghệ hàng chục năm qua. Đó là món nộm rau nhót. Tại các xã Diễn Châu, Quỳnh Phú, Hải Châu…, người dân làng biển thường ví rau nhót là “lộc trời”, “nhân sâm” của người nghèo. Bởi đây là loại rau sạch, bổ dưỡng, dễ tìm kiếm, dễ chế biến. Đặc biệt, món nộm rau nhót vừa gói ghém được đặc điểm tự nhiên, vừa ghi dấu cuộc sống nhọc nhằn nhưng lại lấp lánh vẻ đẹp tâm hồn của người dân xứ biển.

Từ tháng Giêng đến tháng 3 hằng năm, về những vùng biển xã Hải Châu, Diễn Châu, du khách dễ dàng bắt gặp từng tốp phụ nữ, trẻ em mang theo dụng cụ thúng, mẹt, rổ lúi húi hái rau nhót ngoài đồng muối, bờ bãi ven biển để về chế biến món nộm. Để rau nhót hội tụ được yếu tố tươi, ngon thì thời điểm hái rau thường vào vào buổi sáng. Nếu vào buổi trưa hoặc chiều thì rau có vị hơi chát. Sau những ngày mưa, người dân hái rau vào thời điểm nào cũng được.

Bà Chu Thị Hoài (xóm Hải Bắc, xã Diễn Châu) cho biết, trong kí ức của nhiều người miền biển, rau nhót gắn liền với một thời khốn khó, kinh tế còn thiếu thốn. Để có món rau trong bữa cơm, nhiều người đã đi hái rau nhót về luộc hoặc mang ra chợ bán kiếm thêm thu nhập. Cách thức chế biến rau nhót khá đơn điệu khi chủ yếu được luộc chín để làm món nộm. Tuy nhiên, để có món nộm rau nhót ngon, “chuẩn vị” của người vùng biển thì phải cần sự cầu kỳ và trải qua nhiều công đoạn.

Chú thích ảnh
Bạt ngàn rau nhót mặn mọc, phủ kín diện tích phơi đất trên cánh đồng muối của diêm dân xã Nghĩa Phú (tỉnh Nghệ An) khu vực gần cửa biển Lạch Quèn. Ảnh: Xuân Tiến/TTXVN

Thưởng thức nộm rau nhót sẽ cảm nhận được độ giòn giòn, sật sật của rau nhót, vị thơm của các loại rau, vị bùi của lạc rang và chua, cay hài hòa của chanh, ớt. Tất cả hòa quyện tạo nên sự đậm đà trong từng cọng rau của món ăn gắn liền với biết bao thế hệ cư dân miền biển xứ Nghệ.

Ngày nay, người dân miền biển xứ Nghệ thường thưởng thức món nộm rau nhót kết hợp ăn kèm với bánh đa hoặc bánh mướt, bún hay thịt cá trích biển nướng than hoa chấm với nước mắm nhĩ ủ bằng phương pháp thủ công truyền thống của cư dân nơi đây. Dù ăn kèm với món ăn nào thì cũng cho hương vị rất độc đáo, tinh tế. Nhiều năm gần đây, món nộm rau nhót đã xuất hiện trong thực đơn của những nhà hàng, khách sạn ở những khu du lịch ven biển, như: Khu du lịch biển Quỳnh, khu du lịch Diễn Thành, khu du lịch biển Diễn Kim, Cửa Hiền, Cửa Lò…

Hải An (TTXVN)

Dành cho bạn

Việt Nam nằm trong chiến lược thúc đẩy du lịch Đông Nam Á của Thái Lan

Việt Nam nằm trong chiến lược thúc đẩy du lịch Đông Nam Á của Thái Lan

Tổng cục Du lịch Thái Lan (TAT) vừa khởi động chiến dịch tiếp thị mới hướng tới 5 thị trường trọng điểm tại Đông Nam Á và khu vực lân cận, bao gồm Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Singapore và Đài Loan (Trung Quốc), đặt mục tiêu tăng trưởng 6,2% doanh thu và 4,3% lượng du khách từ khu vực ASEAN trong năm tài chính 2027.

Biến di sản thành tài sản để phát triển du lịch bền vững tại Yên Tử​

Biến di sản thành tài sản để phát triển du lịch bền vững tại Yên Tử​

Sau dấu mốc Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa thế giới vào ngày 12/7/2025, thành phố Quảng Ninh đã và đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp thiết thực để phát huy giá trị di sản phục vụ phát triển kinh tế-xã hội.

Đà Nẵng công bố Top 100 điểm chạm du lịch năm 2026

Đà Nẵng công bố Top 100 điểm chạm du lịch năm 2026

Ngày 23/10, tại làng cổ Lộc Yên, xã Thạnh Bình và Bãi Sậy – Sông Đầm, phường Bàn Thạch (Đà Nẵng), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng tổ chức công bố và trải nghiệm “Top 100 Điểm chạm Đà Nẵng” năm 2026.

Đưa ẩm thực Đà Nẵng lên bản đồ số thúc đẩy du lịch

Đưa ẩm thực Đà Nẵng lên bản đồ số thúc đẩy du lịch

Ẩm thực là một trong những yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của du lịch Đà Nẵng. Những món ăn truyền thống không chỉ mang hương vị đặc trưng mà còn chứa đựng những câu chuyện về văn hóa, con người và vùng đất, để lại nhiều ấn tượng cho du khách. Hiện nay, Đà Nẵng đang từng bước xây dựng hệ sinh thái ẩm thực số trên các nền tảng thương mại điện tử và dịch vụ trực tuyến. Việc đưa các giá trị ẩm thực lên không gian số mở ra cơ hội quảng bá, góp phần thúc đẩy phát triển du lịch và kinh tế địa phương.

Phát huy giá trị di tích gắn với phát triển du lịch

Phát huy giá trị di tích gắn với phát triển du lịch

Đồng Tháp có hệ thống di tích lịch sử, văn hóa phong phú, gắn với các nhân vật và sự kiện tiêu biểu của dân tộc. Cùng với công tác bảo tồn, tu bổ, tỉnh từng bước kết nối các di tích với hoạt động tham quan, lễ hội và giáo dục truyền thống, góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch, thu hút du khách, góp phần vào tăng trưởng kinh tế của địa phương.