Đơn hàng xuất khẩu tôm giảm do dịch COVID-19

Trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến khó lường, phần lớn các doanh nghiệp xuất khẩu tôm cho biết, tỷ lệ các đơn hàng bị khách yêu cầu tạm hoãn và dừng hoặc hủy từ 20 - 40%, các đơn hàng mới có được rất ít.
Chú thích ảnh
Chế biến tôm đông lạnh xuất khẩu tại nhà máy ở khu công nghiệp phường 8, thành phố Cà Mau. Ảnh: Trần Việt/TTXVN.

Thông tin từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP): Theo số liệu của Hải quan Việt Nam, xuất khẩu tôm của Việt Nam trong tháng 2 đạt 194,5 triệu USD, tăng 39,5% so với tháng 2/2019. Hai tháng đầu năm nay, xuất khẩu tôm đạt 383,4 triệu USD, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm 2019. Trong tháng 2, xuất khẩu tôm Việt Nam sang Trung Quốc giảm gần 60% trong khi xuất khẩu sang các thị trường chính khác như Nhật Bản, Mỹ, EU, Hàn Quốc đều tăng.

Nhật Bản là thị trường nhập khẩu tôm lớn nhất, chiếm 20,6% tổng giá trị xuất khẩu tôm của Việt Nam. Xuất khẩu tôm sang Nhật Bản trong tháng 2/2020 vẫn khá ổn định, đạt 43,6 triệu USD, tăng 63% so với tháng 2/2019. Cùng đó, xuất khẩu tôm Việt Nam sang Mỹ trong tháng 2 đạt 36,3 triệu USD, tăng 42%; 2 tháng đầu  năm nay đạt 74,2 triệu USD, tăng 22,3% và tôm xuất sang EU đạt 64,9 triệu USD trong 2 tháng đầu năm nay, giảm 15,4%.

Tuy nhiên, từ tháng 3, Châu Âu bắt đầu trở thành tâm dịch mới của COVID-19, dịch bệnh đã lây lan nhanh ra toàn khu vực với các nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là Italy, Tây Ban Nha, Đức... Xuất khẩu hàng hóa sang thị trường này chịu ảnh hưởng nặng nề, các nhà nhập khẩu thông báo hoãn, dừng đơn hàng. Một số doanh nghiệp xuất khẩu tôm sang thị trường này bị hoãn hoặc dừng đơn hàng do nhà nhập khẩu không bán được hàng và tồn kho cao. Dù nhu cầu nhập khẩu vẫn có nhưng trong tình hình bùng phát dịch như hiện nay, doanh nghiệp chưa thể có kế hoạch cụ thể nào ngoài việc phải chờ đợi.

Trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến khó lường, phần lớn các doanh nghiệp xuất khẩu tôm cho biết, chỉ khoảng 30%-50% số  đơn hàng vẫn được giao bình thường theo hợp đồng đã ký. Có tới 20% - 40% số đơn hàng bị khách yêu cầu tạm hoãn, dừng hoặc hủy. Số đơn hàng mới có được rất ít. 

“Tỷ lệ khách hàng yêu cầu hoãn giao hàng hoặc hủy đơn hàng tập trung chủ yếu tại thị trường Châu Âu, Hàn Quốc và Trung Quốc... Nguyên nhân chính được khách hàng đưa ra là do Chính phủ các nước đóng cửa biên giới vì dịch COVID-19. Khách hàng không bán được hàng nên không nhập hàng tiếp, các cửa hàng dịch vụ thực phẩm cũng ngừng hoạt động. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng khó khăn không ít trong di chuyển và thực hiện các hoạt động liên quan đến việc xuất nhập khẩu hàng hóa”, đại diện VASEP cho biết.

Trong bối cảnh khó khăn hiện nay, doanh nghiệp thủy sản đang mong chờ các giải pháp tháo gỡ khó khăn về phí công đoàn, thuế thu nhập doanh nghiệp, các chi phí liên quan tới hoạt động sản xuất kinh doanh... để vượt qua đại dịch.

Về mặt nguyên liệu tôm, đại diện VASEP cho biết, trong khi các thị trường chủ lực đang biến động, nếu người nuôi tôm cùng doanh nghiệp vượt qua giai đoạn cầm cự này bằng cách duy trì nuôi ở mức độ nào đó, để cầm cự đến tháng 6, tháng 7 khi thị trường hồi phục, thì ngành tôm vẫn có nguyên liệu để chế biến và xuất khẩu, bù đắp sụt giảm những tháng đầu năm. Người nuôi cũng cần được tuyên truyền, hướng dẫn và hỗ trợ để có biện pháp duy trì nuôi như kéo dài thời gian hoặc thả giống mật độ thưa hơn…hoặc một số biện pháp khác để cầm cự và giữ ổn định nguyên liệu.

Trung Hiếu/Báo Tin tức

Dành cho bạn

Trung tâm công nghiệp - năng lượng: Cộng sinh chuỗi giá trị

Trung tâm công nghiệp - năng lượng: Cộng sinh chuỗi giá trị

Việc hình thành các trung tâm công nghiệp - năng lượng quốc gia quy mô lớn sẽ mở ra không gian tăng trưởng mới. Nhờ vận hành theo cơ chế hạ tầng dùng chung và trao đổi sản phẩm, mô hình này sẽ tạo nên chuỗi giá trị cộng sinh xuyên suốt - từ nguyên liệu đầu vào, chuyển đổi, chế biến, phát điện đến các ngành công nghiệp sử dụng năng lượng.

PGS Đặng Đức Huy (đứng thứ ba bên phải) chứng kiến lễ ký kết thỏa thuận hợp tác giữa Đại học Trent và Đại học Tài nguyên Môi trường TP. Hồ Chí Minh. Ảnh: TTXVN phát

Đất hiếm Việt Nam: Giá trị không chỉ nằm dưới lòng đất

Trong bối cảnh các nền kinh tế lớn đang tăng tốc xây dựng chuỗi cung ứng khoáng sản chiến lược, đất hiếm ngày càng được nhìn nhận không chỉ như một nguồn tài nguyên mà còn là mắt xích quan trọng của các ngành công nghệ cao và quá trình chuyển đổi xanh.