Đón dòng vốn FDI - Bài 1: Doanh nghiệp Việt tìm chỗ đứng mới

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký tăng mạnh, song không phải khoản đầu tư nào cũng đi kèm nhu cầu xây nhà máy mới và việc nắm bắt cơ hội từ dòng vốn này đang là bài toán với các doanh nghiệp Việt.

Bài 1: Doanh nghiệp Việt tìm chỗ đứng mới

Các nhà máy FDI làm tăng nhu cầu về nguyên liệu, linh kiện và dịch vụ sản xuất. Tuy vậy, doanh nghiệp Việt chỉ nhận được đơn hàng khi hiểu khách hàng cần gì và đáp ứng được tiêu chuẩn của họ, kết nối được hai phía đến đâu sẽ quyết định dòng vốn đầu tư lan tỏa đến đó.

baotintuc_tr_290926diendanbds12.png
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký tăng mạnh, song không phải khoản đầu tư nào cũng đi kèm nhu cầu xây nhà máy mới. Ảnh minh họa

Đơn hàng không tự đến cùng dự án FDI

Mỗi nhà máy có vốn đầu tư nước ngoài khi đi vào hoạt động đều cần vật tư, linh kiện, bao bì, vận tải và dịch vụ bảo trì thiết bị. Theo báo cáo của JLL (tập đoàn cung cấp dịch vụ bất động sản và quản lý đầu tư) được công bố cuối tháng 9, dòng vốn FDI gia tăng kéo theo nhu cầu lớn về chuỗi cung ứng nội địa, từ linh kiện, bao bì đến các dịch vụ hỗ trợ chuyên biệt.

Song nhà máy đặt tại Việt Nam chưa có nghĩa đơn hàng của họ cũng sẽ đến với doanh nghiệp trong nước. Vì vậy, khi bàn về chất lượng dòng vốn FDI tại diễn đàn Bất động sản công nghiệp Việt Nam mới đây, nhiều doanh nghiệp tập trung vào câu hỏi: Mạng lưới sản xuất trong nước có thể đảm nhận những phần việc nào khi một nhà máy mới bắt đầu mua nguyên liệu và đi vào vận hành?

Theo ông Trương Gia Bảo, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Liên chi hội Bất động sản công nghiệp Việt Nam (VIREA), các doanh nghiệp Trung Quốc đến khảo sát Việt Nam hướng tới hoạt động sản xuất lâu dài. Khi chọn địa điểm đặt nhà máy, họ tính cả nguồn đầu vào lẫn khả năng cung ứng cho thị trường Việt Nam và ASEAN.

Ở chiều ngược lại, sự hiện diện của doanh nghiệp Việt trong các khu công nghiệp vẫn còn khiêm tốn. Bà Nguyễn Thị Thảo Nhi, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Thanh Bình Phú Mỹ, cho biết trên diện tích khoảng 1.000 ha của Khu công nghiệp Phú Mỹ 3 hiện chỉ có ba nhà đầu tư Việt Nam.

baotintuc_tr_290926diendanbds5.png
Nhà máy đặt tại Việt Nam chưa có nghĩa đơn hàng của họ cũng sẽ đến với doanh nghiệp trong nước. Ảnh minh họa

Theo bà Thảo Nhi, chi phí vốn, nhân lực và nguyên liệu khiến doanh nghiệp trong nước khó cạnh tranh để vào những khu công nghiệp được đầu tư đồng bộ. Con số này không phản ánh số nhà cung ứng nội địa đang bán hàng cho các nhà máy trong khu, nhưng vẫn gợi ra câu hỏi về cơ hội của doanh nghiệp Việt khi khu công nghiệp thu hút khách thuê FDI.

Bà Nguyễn Thị Thảo Nhi cũng nhận thấy, các tập đoàn ngày càng đặt ra yêu cầu về môi trường, xã hội và quản trị khi lựa chọn địa điểm sản xuất. Đối với nhà cung ứng, điều này có thể kéo theo yêu cầu chứng minh nguồn gốc nguyên liệu, cách thức vận hành và việc kiểm soát tác động môi trường, bên cạnh tiêu chuẩn của sản phẩm giao cho khách hàng.

Như vậy, ở gần nhà máy chỉ giúp hai bên có điều kiện tiếp xúc. Bên mua cần mẫu thử, thông số kỹ thuật và chất lượng đồng đều qua nhiều lô hàng; đơn vị cung cấp nguyên liệu phải giao đúng số lượng, đúng thời điểm; dịch vụ bảo trì phải đáp ứng quy trình an toàn của khách hàng. Bởi vậy, một vùng có nhiều doanh nghiệp chưa đồng nghĩa vùng ấy đã có chuỗi cung ứng đáp ứng yêu cầu của dự án FDI.

Thêm vào đó, một dự án FDI có thể khởi đầu với các đối tác sẵn có trong mạng lưới toàn cầu. Muốn có tên trong danh sách mua hàng, doanh nghiệp Việt phải chứng minh năng lực để được đưa vào quy trình đánh giá, rồi lần lượt tìm hiểu tiêu chuẩn, sản xuất thử và điều chỉnh sản phẩm.

Với doanh nghiệp quy mô nhỏ, quá trình này càng khó. Họ phải tính chi phí cải tiến dây chuyền, kiểm định và duy trì năng lực cung cấp, trong khi hợp đồng chỉ đến sau khi vượt qua vòng đánh giá của bên mua. Nếu không có thông tin về sản lượng dự kiến hay thời hạn hợp tác, quyết định đầu tư sẽ nhiều rủi ro. Vì thế, nhu cầu mua sắm được thông báo càng sớm, nhà cung ứng tiềm năng càng có thêm thời gian chuẩn bị thiết bị, nhân lực và vốn.

Từ khu công nghiệp đến mạng lưới nhà cung ứng

Theo Cục Thống kê, trong 8 tháng năm 2026, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất khẩu 300,37 tỷ USD, chiếm 80,1% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa; hàng tư liệu sản xuất chiếm 94,1% kim ngạch nhập khẩu cả nước. Tuy nhiên, nhiều câu hỏi được đặt ra, liệu doanh nghiệp Việt đang cung cấp được bao nhiêu vật tư, dịch vụ cho các nhà máy?

baotintuc_c_180926logictics-34.jpg
Trong 8 tháng năm 2026, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất khẩu 300,37 tỷ USD, chiếm 80,1% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa. Ảnh minh họa

Muốn nâng phần đóng góp ấy, theo các chuyên gia kinh tế, đơn vị phát triển khu công nghiệp có thể giữ vai trò kết nối, bởi họ thường nắm được ngành nghề của khách thuê mới cũng như năng lực của doanh nghiệp đang hoạt động. Nếu tổ chức thông tin theo nhu cầu mua hàng, họ có thể giúp bên mua tìm đúng đối tác và bên bán biết mình cần chuẩn bị gì.

Tuy nhiên, một danh sách tên doanh nghiệp là chưa đủ. Bên mua cần biết nhà cung cấp bao bì làm được loại vật liệu gì, sản lượng bao nhiêu; đơn vị vận tải có đáp ứng được lịch giao hàng không; doanh nghiệp linh kiện kiểm soát chất lượng ra sao.

Thông tin về nhu cầu còn giúp từng địa phương nhận ra chuỗi cung ứng đang thiếu khâu nào, chẳng hạn kiểm tra sản phẩm, chế biến nguyên liệu hay vận chuyển chuyên dụng. Khi nhìn thấy đơn hàng tiềm năng, doanh nghiệp Việt có cơ sở để đầu tư máy móc hoặc hợp tác nhằm đáp ứng quy mô đặt hàng, còn chủ đầu tư khu công nghiệp có thể tìm khách thuê cho những công đoạn còn thiếu, thay vì chỉ xét diện tích dự án cần sử dụng.

Bên cạnh thông tin, tiêu chuẩn vẫn là điều kiện tiên quyết. Ông Nguyễn Tuấn Anh, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Khu công nghiệp Stavian, cho rằng muốn thu hút các tập đoàn châu Âu đặt nhà máy tại Việt Nam, cần đáp ứng tiêu chuẩn của họ về phát triển xanh và năng lượng tái tạo. Từ kinh nghiệm xuất khẩu sang châu Âu, Nhật Bản và Mỹ, ông nhấn mạnh yêu cầu đáp ứng tiêu chuẩn chuỗi cung ứng - điều nhà cung ứng Việt cũng phải theo kịp nếu muốn trở thành đối tác lâu dài.

ong-nguyen-tuan-anh.jpg
Ông Nguyễn Tuấn Anh, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Khu công nghiệp Stavian, cho rằng muốn thu hút các tập đoàn châu Âu đặt nhà máy tại Việt Nam, cần đáp ứng tiêu chuẩn của họ về phát triển xanh và năng lượng tái tạo.

Về phía cơ quan quản lý, bà Vương Thị Minh Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), đề cập yêu cầu thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. Điều đó cho thấy khả năng tạo đơn hàng cho nhà cung ứng nội địa cần được tính đến ngay từ khi lựa chọn dự án, bên cạnh quy mô vốn đăng ký hay diện tích sử dụng.

Chủ trương này cũng được thể hiện trong Nghị quyết số 10-NQ/TW năm 2026 của Bộ Chính trị, với mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI, trong đó 500 - 1.000 nhà cung ứng cấp I; tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt 45 - 50%. Nghị quyết định hướng công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật, lộ trình nội địa hóa và hình thành cơ sở dữ liệu kết nối nhà cung ứng.

Đây mới là mục tiêu và định hướng chính sách. Muốn biết mục tiêu ấy đi vào thực tế đến đâu, cần theo dõi số doanh nghiệp Việt vượt qua vòng đánh giá của khách thuê, ký được hợp đồng cung ứng và được giao thêm công đoạn khi nhà máy mở rộng. Giành được đơn hàng đầu tiên đã khó, nhưng giữ được đơn hàng qua những lần nhà máy mở rộng sản xuất mới là dấu hiệu rõ nhất cho thấy doanh nghiệp Việt đã có chỗ đứng trong chuỗi cung ứng.

Bài 2: Từ cho thuê đất đến vận hành

Hải Yên

Dành cho bạn

Giá vàng sáng 11/10: SJC tăng 1,3 triệu đồng sau một tuần

Vàng SJC tăng 1,3 triệu đồng sau một tuần nhưng người mua vẫn lỗ

Sáng 11/10, vàng miếng SJC đứng ở mức 141,8 - 144,8 triệu đồng/lượng, cao hơn 1,3 triệu đồng/lượng so với đầu tuần. Dù giá tăng, nhưng chênh lệch mua - bán ở mức 3 triệu đồng/lượng đã khiến người mua từ đầu tuần vẫn chịu lỗ khoảng 1,7 triệu đồng/lượng.

Doanh nhân trẻ ứng dụng công nghệ số để kết nối giao thương

Doanh nhân trẻ ứng dụng công nghệ số để kết nối giao thương

Doanh nhân trẻ TP Hồ Chí Minh đặt mục tiêu ứng dụng trí tuệ nhân tạo, số hóa dữ liệu hội viên và tăng cường kết nối giao thương. Các doanh nghiệp trẻ còn hướng đến chuyển hóa các mối quan hệ, tri thức và uy tín thành cơ hội hợp tác, mang lại giá trị kinh doanh cao.