Đổi mới phổ biến pháp luật cho học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số

Công tác giáo dục, phổ biến pháp luật cho học sinh, sinh viên vùng dân tộc thiểu số và miền núi thời gian qua đã nhận được nhiều quan tâm, phối hợp từ nhà trường, ngành Tư pháp và các tổ chức đoàn thể, nhưng hiệu quả mang lại chưa thực sự đồng đều.

chivietnga-2503.jpg
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, Đoàn Đại biểu Quốc hội TP Hải Phòng.

Phóng viên báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc trao đổi với đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, Đoàn Đại biểu Quốc hội TP Hải Phòng về vấn đề này.

Thưa Đại biểu, xin bà đánh giá về thực trạng công tác giáo dục, phổ biến pháp luật cho học sinh, sinh viên vùng dân tộc thiểu số và miền núi hiện nay? Đâu là rào cản khiến chính sách pháp luật chưa thực sự đi sâu vào đời sống học đường ở các khu vực này, thưa bà?

Thực tế, câu hỏi đặt ra sau mỗi buổi tuyên truyền là các em hiểu được gì, vận dụng ra sao và có biết tìm sự giúp đỡ khi gặp khó khăn hay không?

Những trở ngại về ngôn ngữ, điều kiện đi lại, hay hạ tầng thông tin, vẫn đang ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận pháp luật của đồng bào. Song, rào cản lớn nhất là khoảng cách giữa cách truyền đạt pháp luật với hoàn cảnh sống và nhu cầu thực tế của người học.

Đơn cử, nếu chỉ đọc quy định về hôn nhân, các em có thể biết việc tảo hôn là vi phạm quy định pháp luật, nhưng khi gia đình yêu cầu nghỉ học để kết hôn, các em lại chưa biết cách thuyết phục cha mẹ , chưa biết phải nhờ ai can thiệp và làm sao để tiếp tục được đến trường... Như vậy, kiến thức vẫn chưa chuyển thành khả năng tự bảo vệ cho các em.

Bên cạnh đó, học sinh dân tộc thiểu số rất đa dạng về điều kiện sống và khả năng sử dụng tiếng Việt. Do đó, phải tìm hiểu từng nhóm, từng địa bàn để có cách giáo dục phù hợp. Hy vọng, mỗi bài học pháp luật sẽ giúp các em trả lời được 3 câu hỏi: Mình có quyền gì? Mình có trách nhiệm gì? Và khi quyền lợi bị xâm phạm tìm ai giúp đỡ? Nếu làm được như vậy, pháp luật mới thực sự đi vào đời sống học đường.

Học sinh, sinh viên vùng dân tộc thiểu số có những đặc thù riêng về ngôn ngữ, tập quán và điều kiện tiếp cận thông tin., theo Đại biểu, làm thế nào để chuyển đổi các nội dung pháp luật thành các mô hình giáo dục trực quan, sinh động nhằm nâng cao hiệu quả tiếp thu cho các em?

Muốn pháp luật trở nên gần gũi, hãy bắt đầu bằng những tình huống các em có thể gặp hàng ngày, như: Một lời rủ rê bỏ học đi làm xa, một yêu cầu gửi ảnh riêng tư, một vụ bắt nạt trong lớp, hay áp lực tảo hôn...

Từ những tình huống ấy, giáo viên hãy để học sinh trao đổi, tự lựa chọn cách xử lý, rồi giải thích quy định pháp luật. Khi được đặt mình vào câu chuyện và tự đưa ra quyết định, các em sẽ hiểu pháp luật sâu hơn.

Các hình thức như sân khấu hóa, truyện tranh, tài liệu song ngữ, hay phiên tòa giả định đều có giá trị nếu phù hợp với lứa tuổi: Đối với học sinh nhỏ, có thể dùng tranh vẽ và trò chơi nhận diện hành vi an toàn; với học sinh, sinh viên, có thể tổ chức tranh luận, đóng vai, thực hành giải quyết tình huống. Phiên tòa giả định cần giúp các em hiểu rõ cả hậu quả của hành vi vi phạm lẫn quyền được bảo vệ, hỗ trợ của người bị hại.

Bên cạnh đó, các tài liệu song ngữ cần được biên soạn từ những câu chuyện gần gũi, có sự tham gia kiểm tra của người am hiểu tiếng nói và văn hóa địa phương. Nơi nào mạng Internet chưa ổn định phải có bản in, bản ghi âm, video ngoại tuyến. Đặc biệt, nên để học sinh tham gia xây dựng tiểu phẩm, kể chuyện, làm video và chia sẻ với bạn bè; giáo viên và cán bộ pháp luật sẽ đóng vai trò hướng dẫn, kiểm tra tính chính xác.

Giá trị của việc đổi mới nằm ở khả năng các em vận dụng điều đã học, chứ không chỉ dừng lại ở sự sôi nổi của một buổi sinh hoạt.

Giá trị của việc đổi mới nằm ở khả năng các em vận dụng điều đã học, chứ không chỉ dừng lại ở sự sôi nổi của một buổi sinh hoạt.

Giá trị của việc đổi mới nằm ở khả năng các em vận dụng điều đã học, chứ không chỉ dừng lại ở sự sôi nổi của một buổi sinh hoạt.

Để công tác tuyên truyền pháp luật trong trường học vùng dân tộc thiểu số không mang tính phong trào hay "đánh trống bỏ dùi", theo Đại biểu, Quốc hội và Chính phủ cần có những cơ chế, chính sách đột phá nào?

Để công tác tuyên truyền pháp luật duy trì hiệu qua cần phải đảm bảo 3 yếu tố: Kinh phí ổn định; người thực hiện có đủ năng lực và trách nhiệm được xác định rõ.

Về ngân sách, Chính phủ cần có cơ chế bố trí kinh phí thường xuyên cho giáo dục pháp luật trong trường học ở vùng khó khăn; phân bổ có tính đến mức độ xa xôi, rào cản ngôn ngữ và nhu cầu hỗ trợ của học sinh. Cùng một hoạt động, nhưng chi phí thực hiện ở trường vùng cao có thể khác biệt rất nhiều so với nơi thuận lợi. Kinh phí cần dành thiết thực cho các đầu việc như học liệu, phiên dịch, bồi dưỡng giáo viên, tư vấn và hỗ trợ học sinh. Đồng thời, cần phối hợp các nguồn lực hiện có để tránh việc nhiều chương trình cùng tổ chức tuyên truyền nhưng nhà trường vẫn thiếu tài liệu dùng hằng ngày.

Về nhân lực, cần bồi dưỡng giáo viên cả về kiến thức pháp luật, phương pháp xử lý tình huống và kỹ năng tiếp nhận thông tin nhạy cảm. Giáo viên cũng cần biết khi nào phải chuyển vụ việc đến cơ quan chuyên môn. Trong đó, cần quan tâm đến việc đào tạo, thu hút giáo viên và người làm công tác pháp luật là người dân tộc thiểu số; công việc hỗ trợ học tập gắn với cơ hội việc làm với điều kiện công tác tại địa phương.

Về cơ chế quản lý, Quốc hội trong phạm vi thẩm quyền cần quan tâm quyết định nguồn lực và giám sát kết quả thực hiện. Chính phủ cần quy định rõ trách nhiệm phối hợp, hướng dẫn chi tiết và đánh giá hiệu quả. Thước đo cuối cùng phải là việc học sinh hiểu hơn, biết tìm sự trợ giúp và được hỗ trợ kịp thời.

Hiện nay, tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết hay các rủi ro pháp lý trên không gian mạng vẫn là những thách thức đối với thanh thiếu niên vùng cao. Đại biểu có kiến nghị gì về việc lồng ghép các bài học pháp luật mang tính nhận diện và tự bảo vệ bản thân vào chương trình chính khóa, cũng như ngoại khóa cho học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số?

Về vấn đề này cần xây dựng các bài học theo trình tự cụ thể: Nhận diện nguy cơ – Thực hành ứng phó – Biết tìm người hỗ trợ.

Đối với vấn đề tảo hôn, hôn nhân cận huyết, cần giúp học sinh hiểu quyền tiếp tục học tập, quyền tự nguyện quyết định việc kết hôn khi đủ điều kiện, cũng như những hệ lụy đối với sức khỏe của bản thân và tương lai nếu kết hôn sớm. Sau đó, các em cần được thực hành xử tình huống: Nếu bị thúc ép nghỉ học để lấy chồng, lấy vợ thì phải nói với ai, nhờ nhà trường hỗ trợ bằng cách nào? Giáo dục học sinh phải đi cùng với vận động cha mẹ, người có uy tín trong cộng đồng và hỗ trợ các gia đình khó khăn.

Đối với không gian mạng, nên dạy từ những dấu hiệu cụ thể như tài khoản giả danh, lời mời việc nhẹ lương cao, yêu cầu cung cấp mật khẩu, mã xác thực, hình ảnh riêng tư hoặc yêu cầu chuyển tiền. Học sinh cần được thực hành cách dừng tương tác, bảo vệ tài khoản, lưu thông tin cần thiết và báo cho người đáng tin cậy để xử lý...

Những nội dung này có thể lồng ghép vào các môn học phù hợp, kết hợp hoạt động trải nghiệm và sinh hoạt lớp với mức độ tăng dần theo lứa tuổi. Mỗi trường cần công khai đầu mối tiếp nhận, có cách trao đổi riêng tư và quy trình hỗ trợ rõ ràng.

Đặc biệt, khi học sinh báo mình bị lừa, bị đe dọa hay bị xâm hại, người lớn nhất thiết phải bình tĩnh lắng nghe, tránh trách móc phủ đầu khiến các em sợ hãi, co mình lại và im lặng. Giáo dục pháp luật chỉ phát huy đầy đủ ý nghĩa khi đi cùng với một môi trường mà các em tin tưởng rằng nếu lên tiếng thì sẽ được bảo vệ.

Xin trân trọng cảm ơn Đại biểu!

Lê Vân/Báo Tin tức và Dân tộc