Điểm nghẽn về cơ chế trong phân bổ nguồn vốn
Đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú, Đoàn đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tỉnh Nghệ An cho biết, theo Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính, năm 2026 ngân sách nhà nước đã bố trí dự toán khoảng 95.000 tỷ đồng cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tương ứng 3% tổng chi ngân sách nhà nước. Nhưng sau 9 tháng, tỷ lệ giải ngân mới đạt 37,26% số vốn đã phân bổ; đồng thời vẫn còn khoảng 24.000 tỷ đồng chưa được phân bổ.
Bên cạnh đó, năm 2025 mới có 319 doanh nghiệp trích lập Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ, với tổng số khoảng 12,7 nghìn tỷ đồng, trong đó phần lớn là của doanh nghiệp nhà nước. Những con số này cho thấy, điểm nghẽn hiện nay không đơn thuần là thiếu nguồn lực đầu tư cho khoa học công nghệ, mà còn ở cơ chế phân bổ, khả năng hấp thụ vốn và năng lực ứng dụng khoa học công nghệ của doanh nghiệp.
Một vấn đề khác đáng quan tâm được ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú chỉ ra, đó là kết quả chuyển đổi số và đầu tư công nghệ chưa phản ánh đầy đủ qua những thay đổi về năng suất, hiệu quả sản xuất và năng lực cạnh tranh.
Cũng theo báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính, tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo năm 2026 ước đạt 36%; tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP ước đạt 21,5%. Tuy nhiên, năng lực làm chủ công nghệ chiến lược, năng lực thương mại hóa kết quả nghiên cứu và khả năng lan tỏa công nghệ vào doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn còn hạn chế.
Để triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW trong năm 2027, đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú đề nghị, đổi mới cơ chế quản lý và đánh giá hiệu quả đầu tư khoa học công nghệ. Đối với nghiên cứu ứng dụng, cần chuyển từ quản lý chủ yếu theo nhiệm vụ, dự toán và tiến độ giải ngân sang đánh giá theo sản phẩm đầu ra và tác động thực tế.
Các chỉ tiêu cần được lượng hóa như số công nghệ được chuyển giao, số kết quả nghiên cứu được thương mại hóa, số doanh nghiệp ứng dụng công nghệ, mức tiết kiệm chi phí và giá trị gia tăng tạo ra.
Đối với nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu chính sách, cần có cơ chế đánh giá phù hợp với đặc thù, chú trọng chất lượng khoa học, khả năng cung cấp luận cứ và tác động đến hoạch định chính sách, thay vì áp dụng máy móc các tiêu chí thương mại hóa.
Hình thành các chương trình khoa học công nghệ quốc gia và cấp vùng gắn trực tiếp với những bài toán phát triển kinh tế - xã hội.
“Năm 2027 cần tập trung nguồn lực cho một số chương trình, nhiệm vụ khoa học công nghệ có khả năng tạo tác động lớn đến năng suất của các ngành kinh tế và giải quyết các bài toán trọng tâm phát triển của các vùng trọng điểm. Đối với vùng Bắc Trung Bộ tập trung cho trung tâm kinh tế biển (cảng biển, logisstic, du lịch biển đảo, sinh thái và di sản văn hóa lịch sử) và năng lượng tái tạo, khí LNG, trung tâm dữ liệu”, đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú đề nghị.
Đồng thời, đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú cũng đề nghị quan tâm đúng mức đến nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, nhất là nghiên cứu chính sách, thể chế, mô hình phát triển mới, nguồn nhân lực, chuyển dịch lao động và những tác động xã hội của chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo. Bởi đổi mới mô hình phát triển không chỉ là đổi mới công nghệ, mà còn là đổi mới phương thức tổ chức sản xuất, quản trị và phân phối thành quả tăng trưởng.
Thực hiện nhiều nhiệm vụ số hóa dữ liệu
Đồng tình với quan điểm của đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú, đại biểu Nguyễn Thị Thúy Lam (Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Tháp) thống nhất với định hướng của Chính phủ lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực phát triển.
Từ thực tiễn cấp xã, đại biểu Thúy Lam cho biết hiện nay, cấp xã đang đồng thời thực hiện nhiều nhiệm vụ số hóa dữ liệu, hỗ trợ người dân tích hợp thông tin trên VNeID và cập nhật các phần mềm chuyên ngành. Đây đều là những nhiệm vụ cần thiết.
Đại biểu Thúy Lam lấy ví dụ, như: Phòng Văn hoá - Xã hội tích hợp BHYT, tài khoản An sinh xã hội, Sổ sức khoẻ điện tử, chữ ký số; Phòng Kinh tế chủ trì phối hợp Công an xã tích hợp định danh tổ chức đối với các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, hợp tác xã, phối hợp Chi nhánh Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất chiến dịch 30 ngày đêm làm sạch làm giàu dữ liệu đất đai; Công an xã tích hợp định danh mức độ 2, hướng dẫn định danh tổ chức. Đang thực hiện số hoá hồ sơ xe cao điểm 100 ngày đêm và số hoá hồ sơ tàng thư cư trú trên địa bàn, hiện tại đang thực hiện...
Tuy nhiên, đại biểu Thúy Lam cũng chỉ ra rằng, khi nhiều yêu cầu cùng triển khai trong thời gian ngắn, nhưng nhân lực có hạn, một số hệ thống phần mềm còn chậm, phát sinh lỗi nên việc thực hiện gặp không ít khó khăn. Có thời điểm, cán bộ phải dành nhiều thời gian chờ hệ thống, thao tác lại, điều kiện thực tế người dân đi làm ăn xa, đi làm việc nước ngoài, người bệnh tâm thần, bệnh nặng và người dân không có khả năng mua được điện thoại thông minh, từ đó cán bộ tốn rất nhiều thời gian, công sức để thực hiện.
Điều này phần nào thu hẹp thời gian bám địa bàn, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và giải quyết các vấn đề dân sinh.
Từ thực tế trên, đại biểu Thúy Lam đề nghị Chính phủ quan tâm điều phối thống nhất lộ trình số hóa giữa các bộ, ngành, cơ quan trung ương. Cần xác định rõ nhiệm vụ ưu tiên, tiến độ phù hợp và nguồn lực tương ứng; đồng thời cần có sự rà soát tổng thể khối lượng công việc đang giao cấp xã, hạn chế nhiều đợt cao điểm trùng nhau. Cần gắn tiến độ triển khai với mức độ sẵn sàng của hệ thống. Phần mềm cần được kiểm thử sát thực tế, bảo đảm khả năng vận hành, liên thông và có đầu mối hỗ trợ kỹ thuật kịp thời. Đặc biệt, dữ liệu đã có, đủ điều kiện khai thác cần được kế thừa, hạn chế nhập lại.