Doanh nghiệp chịu áp lực lãi suất neo cao
Bà Lâm Thúy Ái, Chủ tịch HĐTV Công ty TNHH Sản xuất - Thương mại Mebipha cho biết, trong giai đoạn 2024-2025, doanh nghiệp tập trung đầu tư xây dựng cơ bản, mở rộng hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn cho kế hoạch đầu tư đã được chuẩn bị từ năm 2025 thông qua làm việc với ngân hàng. Tuy nhiên, trước những biến động về hạn mức tín dụng và lãi suất, doanh nghiệp phải chia nhỏ các giai đoạn đầu tư, khiến tiến độ hoàn thành dự án chậm hơn kế hoạch.
Theo bà Lâm Thuý Ái, tiến độ đầu tư kéo dài ảnh hưởng đến xây dựng và giải ngân. Trong khi đó, sau khi các tỉnh được hợp nhất, doanh nghiệp cần thêm thời gian đánh giá lại thị trường, xác định hướng đi phù hợp. Vì vậy, một số kế hoạch mở rộng kinh doanh, trong đó có phát triển thị trường bán lẻ tại TP Hồ Chí Minh, chưa thể triển khai như kỳ vọng.
Khó khăn về vốn cũng tạo áp lực lớn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chi phí vay cao làm thu hẹp lợi nhuận, hạn chế nguồn lực tái đầu tư, nhất là trong quý cuối của năm, khi doanh nghiệp cần vốn để hoàn thành kế hoạch kinh doanh và chuẩn bị cho mùa cao điểm Tết.
Ông Nguyễn Quốc Kỳ - Chủ tịch HĐQT Công ty CP Du lịch Vietravel cho rằng, một số ngân hàng đang áp dụng lãi suất cho vay doanh nghiệp trên 10%. Mức lãi suất này cần được Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước xem xét, bởi chi phí vốn cao làm gia tăng áp lực tài chính, thu hẹp lợi nhuận và hạn chế khả năng tái đầu tư của doanh nghiệp.
Áp lực càng lớn trong quý cuối năm, khi doanh nghiệp cần bổ sung vốn để duy trì hoạt động và chuẩn bị cho mùa kinh doanh cao điểm dịp Tết. Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp đứng trước lựa chọn khó khăn: không vay sẽ thiếu vốn hoạt động, nhưng nếu tiếp tục vay với lãi suất cao, phần lợi nhuận tạo ra có thể bị bào mòn đáng kể.
Đáng chú ý, theo ông Nguyễn Quốc Kỳ, khó khăn lớn nhất hiện nay là nhiều doanh nghiệp đã được ngân hàng chấp thuận cấp tín dụng, nhưng tỷ lệ và tiến độ giải ngân vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Ông đặt vấn đề cần xem xét nguyên nhân khiến doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận dòng tiền, liệu nguồn vốn có đang tập trung vào các dự án đầu tư công hay một số công trình, dự án và doanh nghiệp trọng điểm, khiến doanh nghiệp nhỏ và vừa khó tiếp cận hơn hay không.
Báo cáo kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2026 của Thống kê TP Hồ Chí Minh cũng lưu ý, lãi suất huy động và cho vay tăng có thể làm gia tăng chi phí vốn nếu kéo dài. Trong bối cảnh Thành phố đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 10% năm 2026, việc khơi thông dòng vốn và nâng cao khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp là yêu cầu quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng.
Hướng dòng vốn vào đúng nhu cầu
Tại hội nghị về kinh tế - xã hội TP Hồ Chí Minh ngày 15/10, ông Võ Minh Tuấn, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 2 cho biết, để đạt mục tiêu đề ra, trong giai đoạn tới, ngành ngân hàng xác định mục tiêu không chỉ “đủ vốn” cho nền kinh tế, mà quan trọng hơn là “đúng vốn, đúng đối tượng, đúng lĩnh vực, đúng thời điểm”
Đến cuối tháng 9/2026, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn TP Hồ Chí Minh đạt khoảng 5,8 triệu tỷ đồng, tăng 11,4% so với cuối năm 2025 và tăng 18,72% so với cùng kỳ. Trong 9 tháng, ngành ngân hàng đã giải ngân thêm 593.700 tỷ đồng, hoàn thành 76% chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng 15% của cả năm được Thành phố giao từ đầu năm.
Hoạt động kết nối ngân hàng - doanh nghiệp đến cuối quý III/2026 đạt tổng số tiền 457.600 tỷ đồng, phục vụ hơn 147.000 lượt khách hàng. Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 2 cũng đã tiếp nhận và xử lý dứt điểm 33/33 trường hợp vướng mắc của doanh nghiệp được chuyển lên từ cơ sở.
Trong ba tháng cuối năm, ngành ngân hàng thành phố tiếp tục triển khai chương trình “Ngân hàng gắn kết địa phương”, tăng cường tư vấn, hướng dẫn doanh nghiệp và hộ kinh doanh tiếp cận tín dụng. Việc đẩy mạnh chuyển đổi số, tự động hóa quy trình cũng được kỳ vọng rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, giảm chi phí giao dịch.
Tuy nhiên, khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn là vấn đề cần tháo gỡ. Theo ông Võ Minh Tuấn, nhóm doanh nghiệp này thường gặp khó khăn trong chứng minh dòng tiền, tài sản bảo đảm, báo cáo tài chính và tính khả thi của phương án kinh doanh. Quy mô vốn nhỏ, sức chống chịu hạn chế và thiếu tài sản bảo đảm khiến quá trình thẩm định, cấp tín dụng, nhất là đối với các khoản vay không có tài sản bảo đảm, gặp nhiều trở ngại.
Vì vậy, bên cạnh giải pháp từ phía ngân hàng, việc tháo gỡ vướng mắc pháp lý và thủ tục đầu tư có ý nghĩa quan trọng trong cải thiện khả năng tiếp cận vốn. Đại diện Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 2 kiến nghị thành phố đẩy nhanh phê duyệt quy hoạch, thủ tục giao đất, cho thuê đất và giải phóng mặt bằng; đồng thời tăng cường phối hợp giữa các sở, ngành để rút ngắn thời gian hoàn thiện hồ sơ pháp lý cho doanh nghiệp.
Thực tế, có trường hợp doanh nghiệp đã được phê duyệt tăng hạn mức vay nhưng chưa thể triển khai dự án do chưa hoàn tất thủ tục liên quan đến đất đai, quy hoạch. Khi những vướng mắc này được xử lý, nguồn vốn tín dụng mới có thể được đưa vào các dự án đầu tư, tạo thêm năng lực sản xuất và giá trị kinh tế.
Cùng với đó, kết nối cung - cầu, xúc tiến thương mại quốc tế, kích cầu tiêu dùng nội địa và hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số sẽ góp phần mở rộng đầu ra, cải thiện hiệu quả kinh doanh. Việc chuẩn hóa dữ liệu, áp dụng hóa đơn điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt và minh bạch thông tin tài chính cũng giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, tạo cơ sở thuận lợi hơn khi tiếp cận tín dụng chính thức.
Theo đại diện Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 2, tăng trưởng tín dụng chỉ thực sự chuyển hóa thành tăng trưởng GRDP khi dòng vốn được hấp thụ vào hoạt động sản xuất kinh doanh thực tế và tạo ra giá trị gia tăng mới.
“Để đạt mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 10% trong năm 2026, TP Hồ Chí Minh không chỉ cần thêm nguồn vốn, mà quan trọng hơn là phải chuyển hóa nguồn vốn thành năng lực sản xuất, thành công trình dự án và mang lại giá trị gia tăng thực tế. Vì vậy, bên cạnh việc ngành Ngân hàng giữ ổn định mặt bằng lãi suất và sẵn sàng cung ứng nguồn vốn, yếu tố góp phần thúc đẩy tăng trưởng là tiếp tục tháo gỡ các vướng mắc để tăng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế Thành phố”, ông Tuấn nói.