Đầu năm, sản xuất và tiêu thụ thép giảm mạnh

Theo ông Nguyễn Văn Sưa, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam, sản xuất và bán hàng các sản phẩm thép tháng 1/2017 đều thấp hơn so với thời điểm cuối năm 2016.

Nguyên nhân, do tháng 1 trùng vào thời gian nghỉ Tết Nguyên đán, nhu cầu sử dụng thép trong xây dựng, sản xuất không nhiều, đồng thời, các nhà thương mại cũng đã dự trữ tồn kho một lượng hàng lớn từ trước Tết.

Tính chung tháng 1/2017, tổng lượng sản xuất các sản phẩm thép đạt hơn 1,37 triệu tấn, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm 2016 nhưng giảm 12,7% so với tháng trước. Tổng lượng bán hàng các sản phẩm thép tháng 1 chỉ đạt hơn 823.000 tấn, giảm 21,2% so với cùng kỳ và giảm 45,2% so với tháng tháng trước.

Đầu năm, sản xuất và tiêu thụ thép giảm mạnh ảnh 1

Sản xuất thép ở Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên. Ảnh: Ngọc Hà/TTXVN

Trong tháng 1, với thép xây dựng, số liệu từ doanh nghiệp Hoà Phát cho thấy, Tập đoàn sản xuất hơn 158.000 tấn, song chỉ bán hàng đạt hơn 79.000 tấn, đạt 35,7% so với tháng 12/2016 và bằng 76,2% so với cùng kỳ.

Còn khối các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Thép (VnSteel) sản xuất hơn 135.000 tấn, bán hàng đạt hơn 78.000 tấn, bằng 45,7% so với tháng 12/2016 và bằng 63,5% so với cùng kỳ....

Với mặt hàng tôn mạ, hầu hết các doanh nghiệp cũng đều có lượng tiêu thụ thấp hơn nhiều so với tháng 12/2016. Tôn Đông Á chỉ đạt 49%, Nam Kim đạt gần 51%, Tôn Phương Nam đạt hơn 63%, Blue Scope VN đạt 80%. Duy chỉ có Tập đoàn Hoa Sen sản xuất gần 143.000 tấn, bán hơn 91.400 tấn (trong đó, xuất khẩu hơn 64.500 tấn) và đạt hơn 100% so với tháng 12/2016...

Đáng chú ý, trong năm 2016 và thời điểm đầu năm 2017, nhập khẩu thép tiếp tục tăng cao so với năm 2015, đặc biệt là với các mặt hàng mà Việt Nam còn dư khả năng sản xuất.

Cụ thể như phôi thép, số lượng phôi nhập khẩu năm 2016 là hơn 1,11 triệu tấn, chiếm 12,6% thị phần phôi cả nước; tôn mạ và sơn phủ màu có số lượng nhập khẩu năm 2016 ước hơn 1,86 triệu tấn, tăng 30,7% so với năm 2015 và chiếm tới trên 50% thị phần nội địa; thép hợp kim nhập nhẩu hơn 8,17 triệu tấn, trong đó có khoảng 1,9 triệu tấn thép dài có thể đã được sử dụng như thép xây dựng thông thường.

Trung Quốc tiếp tục là nhà xuất khẩu thép vào Việt Nam lớn nhất với gần 60% tỷ trọng thép nhập khẩu vào Việt Nam, đạt hơn 10,8 triệu tấn thép các loại, tương đương hơn 4,45 tỷ USD. Tiếp theo là Nhật Bản và Hàn Quốc đạt 12,5% đến 14,8%...

Ông Nguyễn Văn Sưa dự báo, sản lượng tiêu thụ trong tháng 2/2017 và thời gian ngắn tới sẽ tăng hơn so với tháng 1, song cũng sẽ tăng không cao do nhà thương mại sẽ giảm hàng tồn đã đầu cơ từ trước.

Theo đánh giá của Bộ Công Thương, các doanh nghiệp sản xuất thép trong nước có khả năng đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường, song sắt thép trong nước vẫn liên tục phải cạnh tranh về giá với các sản phẩm cùng loại của Trung Quốc ồ ạt tràn vào Việt Nam khiến các doanh nghiệp sản xuất trong nước gặp nhiều khó khăn.

Do vậy, để thúc đẩy ngành sản xuất thép trong nước, Bộ này cho biết, sẽ tiếp tục áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại, tự vệ tạm thời để bảo vệ các doanh nghiệp sản xuất trong nước, đảm bảo cạnh tranh công bằng với hàng nhập khẩu; theo dõi sát tác động của các biện pháp này tới sản xuất, tiêu dùng trong nước để có sự điều chỉnh kịp thời nếu cần.

Đức Dũng (TTXVN)

Dành cho bạn

Yêu cầu kiểm soát tàu thuyền, an toàn giao thông trước áp thấp nhiệt đới

Yêu cầu kiểm soát tàu thuyền, an toàn giao thông trước áp thấp nhiệt đới

Bộ Xây dựng vừa ban hành công điện gửi các đơn vị, địa phương về việc chủ động ứng phó với áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông, nhằm triển khai Công điện 51/CĐ-BCĐ-BNNMT ngày 12/9/2026 của Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự Quốc gia về việc chủ động ứng phó với áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông.

Giá gạo xuất khẩu vẫn duy trì trạng thái ổn định

Giá gạo xuất khẩu vẫn duy trì trạng thái ổn định

Trong tuần qua, trên thị trường gạo châu Á tuần qua chứng kiến đà tăng giá tại Ấn Độ và Thái Lan do những lo ngại về thời tiết khô hạn, trong khi giá gạo xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục duy trì trạng thái ổn định trong khoảng 440-445 USD/tấn.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài cuối: Những tuyến đường đến các cực tăng trưởng mới

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài cuối: Những tuyến đường đến các cực tăng trưởng mới

Cao tốc, sân bay và cảng biển tạo lợi thế tiếp cận, nhưng dòng vốn chỉ ở lại nơi có đất sạch, điện, nước, nhân lực, môi trường và thủ tục đủ tin cậy. Từ Vân Phong, Nhơn Hội, Buôn Ma Thuột đến Liên Chiểu và các đô thị dọc cao tốc Lâm Đồng, miền Trung - Tây Nguyên đang hình thành nhiều điểm hội tụ mới. Thách thức là biến các dự án riêng lẻ thành hệ sinh thái và phân chia lợi ích liên vùng.