Video Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, Đoàn ĐBQH TP Hải Phòng chia sẻ:
Sự nở rộ của các phương thức này cũng đang đặt ra không ít bất cập: Từ nguy cơ mất bình đẳng cơ hội tiếp cận đại học của học sinh vùng khó khăn, hiện tượng "làm đẹp học bạ" cho đến tình trạng loạn lớp luyện thi theo các kỳ thi riêng. Về vấn đề này, phóng viên báo Tin tức và Dân tộc đã trao đổi với Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, Đoàn ĐBQH TP Hải Phòng.
Thưa Đại biểu, nhìn lại công tác tuyển sinh đại học những năm qua, đại biểu đánh giá như thế nào về việc giao quyền tự chủ tuyển sinh cho các trường đại học?
Khi được trao quyền tự chủ trong công tác tuyển sinh, các trường đại học có điều kiện căn cứ vào mục tiêu, yêu cầu, triết lý giáo dục cũng như chiến lược đào tạo của riêng mình để tự đề ra những phương thức tuyển sinh hợp lý nhất.
Từ việc chủ động xác định các tổ hợp môn xét tuyển, hình thức cộng điểm ưu tiên cho đến các phương thức xét tuyển đa dạng khác, quyền tự chủ này đã giúp các nhà trường lựa chọn được những đối tượng sinh viên đầu vào đáp ứng tốt nhất yêu cầu và định hướng đào tạo của trường.
Những năm qua, chúng ta thấy rằng việc giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học trong tuyển sinh đã dẫn đến một "khoảng xám". Đó là sự nở rộ quá nhiều phương thức tuyển sinh, khiến học sinh gặp rất nhiều khó khăn khi tiếp cận. Mỗi học sinh có quyền đăng ký vào nhiều trường đại học với nhiều tổ hợp xét tuyển khác nhau, nhưng vì hình thức tuyển sinh giữa các trường không giống nhau nên đã tạo thành một "ma trận" khá rối.
Mặt khác, quyền tự chủ bao giờ cũng phải đi liền với trách nhiệm giải trình. Mỗi trường đại học khi xác định phương thức tuyển sinh phải giải trình được phương thức đó mang lại lợi ích gì và vì sao lại chọn phương thức đó. Nhưng khi chúng ta giao quyền tự chủ quá mạnh, ở một số trường - đặc biệt là những đại học khó thu hút nguồn tuyển - lại xuất hiện rất nhiều hình thức xét tuyển nhằm thu hút càng nhiều người học càng tốt.
Điều này dẫn đến tình trạng có những phương thức tuyển sinh khá dễ dãi. Khi tuyển sinh dễ dãi, chất lượng đầu vào không được đảm bảo, từ đó chất lượng đầu ra cũng khó lòng bảo đảm. Học sinh đầu vào nếu chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo đại học, trong suốt quá trình học tập sẽ rất khó khăn và chất lượng giáo dục đại học rất khó nâng cao.
Tôi nghĩ chúng ta cần nhìn nhận lại vấn đề này: Trao quyền tự chủ nhưng phải có những yêu cầu bắt buộc, sự đánh giá khắt khe hơn và trách nhiệm giải trình rõ ràng hơn trong các hình thức tuyển sinh.
Có ý kiến cho rằng việc ưu tiên xét tuyển bằng chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế hay các phương thức xét tuyển sớm đang vô hình trung thu hẹp cơ hội của học sinh vùng sâu, vùng xa, khu vực khó khăn. Quan điểm của Đại biểu về vấn đề này như thế nào?
Tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm này. Nếu chúng ta trao quá nhiều "quyền năng" cho chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế, vô hình trung chúng ta đã gây khó khăn hơn cho các đối tượng học sinh, thí sinh ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Để có được một chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế, bên cạnh năng lực của người học, còn phụ thuộc vào rất nhiều điều kiện khác: Phải ôn luyện sao cho đáp ứng đúng cấu trúc (format) của bài thi; Địa điểm tổ chức thi: Không phải ở đâu cũng tổ chức thi được, thường chỉ tập trung tại các đô thị lớn mới có cơ sở đủ điều kiện; Lệ phí thi một chứng chỉ ngoại ngữ là không nhỏ. Nhiều em có năng lực ngoại ngữ nhờ tự học hoặc học từ thầy cô ở trường, nhưng gia đình không có điều kiện kinh phí để đi thi. Thực tế, để đạt mức điểm đáp ứng yêu cầu của các trường đại học, nhiều em phải thi lại rất nhiều lần. Mỗi lần thi là một khoản chi phí lớn, tạo nên rào cản rất nặng nề với học sinh có hoàn cảnh khó khăn.
Vì vậy, việc quá ưu tiên chứng chỉ quốc tế đã vô tình tạo ra sự không công bằng giữa các nhóm thí sinh.
Dưới góc độ giám sát của Quốc hội, theo Đại biểu, đâu là giải pháp căn cơ để ngăn chặn nguy cơ tiêu cực từ việc "làm đẹp học bạ" hay chạy đua chứng chỉ quốc tế?
Sự lo ngại này là hoàn toàn có cơ sở và chúng ta phải nhìn nhận rất nghiêm túc. Hiện tượng gian lận hay "chạy đua" để làm đẹp kết quả học tập hàng năm của học sinh là có.
Khi phương thức xét tuyển quá phụ thuộc vào điểm số học bạ sẽ dẫn đến tâm lý tìm mọi cách có điểm số đẹp để "né" kỳ thi trực diện. Trong khi đó, nếu nỗ lực phấn đấu cho một kỳ thi trực diện (như kỳ thi tốt nghiệp THPT hay các kỳ thi đánh giá năng lực của các trường uy tín) đòi hỏi khắt khe hơn, thì việc "làm đẹp học bạ" lại không phản ánh đúng thực chất lực học của học sinh. Dù đây có thể không phải là hiện tượng đại trà, nhưng là kẽ hở cần phải ngăn chặn.
Giải pháp căn cơ là chúng ta phải đổi mới phương thức tuyển sinh theo hướng thực chất hơn. Kết quả xét tuyển phải đánh giá đúng năng lực và kiến thức thực tế của người học, thay vì chỉ dựa vào hồ sơ, giấy tờ.
Hiện nay, cơ chế kiểm soát chất lượng tuyển sinh đã đủ sức nặng để ràng buộc trách nhiệm của các cơ sở giáo dục đại học chưa, thưa Đại biểu?
Chúng ta đã có nhiều quy định từ Luật đến các văn bản dưới luật. Tuy nhiên, cần phải rà soát lại một cách rất thực chất để khắc phục các kẽ hở. Đó là:
Rà soát và loại bỏ phương thức không phù hợp: Phương thức tuyển sinh nào không còn phù hợp, không đánh giá đúng thực chất năng lực người học, không tạo ra sự công bằng thì cần loại bỏ.
Siết chặt quy định tuyển sinh: Bổ sung các quy định để mọi học sinh dù tiếp cận theo phương thức nào cũng được đánh giá trung thực, công bằng. Tôi thấy dự thảo quy chế mới nhất của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã hướng tới khắc phục điểm này.
Ngăn chặn tuyển sinh ồ ạt: Cần kiểm soát tình trạng hạ thấp tiêu chuẩn hay mở quá nhiều hình thức tuyển sinh chỉ nhằm mục đích thu hút càng đông người học càng tốt.
Quản lý các kỳ thi riêng và thị trường luyện thi: Hiện nay đang có sự nở rộ các kỳ thi đánh giá năng lực, đánh giá tư duy của các trường. Trong khi Bộ Giáo dục và Đào tạo chưa có hướng dẫn hay bộ chuẩn cụ thể, việc giao quyền tự chủ đã dẫn đến tình trạng kéo theo các trung tâm luyện thi, bộ đề thi, tài liệu chưa qua kiểm chứng tràn lan trên thị trường. Thí sinh bị mời chào, chèo kéo tham gia các lớp bồi dưỡng, gây nhiễu loạn thông tin và tốn kém không cần thiết.
Tóm lại, chúng ta phải đưa công tác tuyển sinh về quỹ đạo rõ ràng, minh bạch và công bằng. Lựa chọn phương thức tuyển sinh nào phải đi đôi với trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục đại học đó: phải giải thích được vì sao chọn phương thức đó và phương thức đó đáp ứng yêu cầu chất lượng đào tạo của nhà trường ra sao.
Trân trọng cảm ơn Đại biểu!